CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội Khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từ khái niệm “nhân thân” và khái niệm “người phạm tội” [28, tr.147], Do vậy trước khi nghiên cứu khái niệm nhân thân người phạm tội chúng ta cần phải tìm hiểu khái niệm của xã hội học về nhân thân con người, theo từ điển tiếng Việt nhân thân con người được định nghĩa là “Tổng hợp các đặc điểm về nhân thế, tính cách và cuộc sống của cá nhân một con người về mặt thi hành pháp luật” [47, tr. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin nhân thân con người là một phạm trù lịch sử - xã hội, nó là sản phẩm của một thời đại nhất định, được quy định bởi những điều kiện lịch sử cụ thể của hiện thực xã hội, mỗi thời đại khác nhau sản sinh ra những mẫu người không giống nhau, song dù ở thời đại nào thì bản chất con người luôn luôn là “tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [6, tr.Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người, yếu tố xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người.
Vì vậy nhân thân của một con người là sự thống nhất giữa các yếu tố xã hội và yếu tố sinh học, trong đó yếu tố xã hội mang tính chất quyết định hoặc có thể hiểu nhân thân con người là tất cả các đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội có liên quan đến một con người, thể hiện bản chất riêng của họ. Hiện nay, có nhiều ngành khoa học pháp lý khác nhau định nghĩa về 9 nhân thân người phạm tội như luật hình sự, luật tố tụng hình sự, tội phạm học, xã hội học… mỗi ngành sẽ có cách nghiên cứu, tiếp cận ở mỗi khía cạnh khác nhau và có những ý nghĩa khác nhau, tiếp cận dưới góc độ luật hình sự thì nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội đối với giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của người đó [26, tr. Trong tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội là tổng hòa các yếu tố, các đặc điểm riêng biệt của người phạm tội ở địa bàn hành chính - lãnh thổ nhất định trong một khoảng thời gian nhất định về các mặt tâm- sinh lý- xã hội, nhân khẩu, nhân chủng học và pháp lý, những cái có ý nghĩa, có giá trị thiết thực cho việc xác định nguyên nhân, điều kiện của tội phạm để có giải pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp [12, tr. Khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội chính là nghiên cứu con người phạm tội cụ thể “Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là con người phạm tội chứ không phải là con người nói chung, người phạm tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [28, tr.
Tuy con người được sinh ra không phải để trở thành người phạm tội, nhưng con người có khả năng để trở thành người phạm tội, khi mà trong quá trình sinh sống trong xã hội của người đó gặp phải những điều kiện hoàn cảnh không thuận lợi, từ đó hình thành các đăc điểm nhân thân tiêu cực và khi gặp những tình huống bên ngoài thuận lợi sẽ dễ làm phát sinh hành vi phạm tội. Những dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội bao gồm tất cả các đặc điểm, dấu hiệu riêng biệt của người phạm tội mà luật hình sự quy định là chủ thể của tội phạm, như vậy khái niệm nhân thân người phạm tội là: “Tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” [40, tr. Các đặc điểm của nhân thân người phạm tội Trong lý luận tội phạm học, các đặc điểm nhân thân người phạm tội được chia thành ba nhóm: Nhóm đặc điểm sinh học, nhóm đặc điểm tâm lý và nhóm đặc điểm xã hội [17, tr. Sau đây, chúng ta sẽ làm rõ các nhóm đặc điểm nhân thân người phạm tội: 1.
Nhóm đặc điểm sinh học Khi nghiên cứu các đặc điểm sinh học của người phạm tội chính là việc chúng ta nghiên cứu về độ tuổi, giới tính, dân tộc, quốc tịch của người phạm tội [17, tr.152], nghiên cứu đặc điểm giới tính người phạm tội, tội phạm học tập trung xác định hai nội dung: thứ nhất là tỉ lệ phạm tội của nam giới và nữ giới thực hiện, thứ hai là đặc trưng của giới tính có ảnh hưởng như thế nào đến cơ chế hành vi phạm tội. Thực tế qua nghiên cứu tình hình tội phạm ở nước ta cho thấy số lượng giữa nam giới và nữ giới phạm tội có khác nhau, việc nam giới phạm tội nhiều hơn nữ giới ở đây có thể hiểu là do những điều kiện hình thành nên phẩm chất cá nhân và sự tiếp nhận về mặt giáo dục, xã hội của nam giới có những đặc điểm khác với nữ giới, nam giới và nữ giới đều bình đẳng như nhau trong việc tiếp nhận giáo dục, đồng thời họ cùng có khả năng nhận thức như nhau, tuy nhiên trong gia đình người Việt từ xưa vẫn luôn coi trọng nam giới hơn nữ giới, mong muốn sinh cho được con trai vẫn trong nếp nghĩ của nhiều gia đình, vì vậy nam giới sẽ được nuông chiều hơn, trong khi khả năng kiểm soát và kiềm chế hành vi của nam kém hơn nữ nên dễ bị tác động bởi các yếu tố từ môi trường sống, dễ phát sinh tâm lý tiêu cực hơn nữ giới, dễ bị ảnh hưởng bởi các thói hư, tật xấu, dễ bị tiêm nhiễm bởi các tệ nạn xã hội. Độ tuổi ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách trong đặc điểm nhân thân người phạm tội. Yếu tố lứa tuổi của người phạm tội ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm cũng xuất phát từ các đặc điểm thể chất, tâm lý, xã hội của mỗi lứa tuổi khác nhau.
Trong đó, vai trò vị 11 trí xã hội của mỗi độ tuổi luôn ảnh hưởng quyết định đến việc lựa chọn phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm. Dấu hiệu về độ tuổi của người phạm tội cho phép nói lên các đặc điểm xử sự trái pháp luật của những người ở những độ tuổi khác nhau, cũng như tính chất riêng biệt của cơ cấu về độ tuổi của các nhóm người phạm tội khác nhau. Độ tuổi của người phạm tội thường được chia thành 04 nhóm: nhóm người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi; nhóm người từ 18 đến 30 tuổi; nhóm người từ 30 đến 45 tuổi; nhóm người trên 45 tuổi. Theo cách phân nhóm này, những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi là những người có khả năng nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, chưa có sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý, chưa nhận thức hết hành vi nguy hiểm của mình và phần lớn đều là dân nhập cư, bỏ học sớm, bị gia đình bỏ rơi.
những người trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi là những người đã hoàn thiện về tâm sinh lý. Tuy nhiên, lứa tuổi này đang trong giai đoạn học tập, định hướng nghề nghiệp, cuộc sống chưa ổn định, muốn khẳng định mình, nên diễn biến tâm lí không ổn định và cũng dễ bị tác động của môi trường xã hội xung quanh. Lứa tuổi từ 30 tuổi đến 45 tuổi là lứa tuổi chín chắn, có suy nghĩ và hành động cẩn trọng, ở độ tuổi này, con người thường đã ổn định về gia đình, nghề nghiệp, tích lũy được kinh nghiệm sống, khả năng tự kiềm chế cao nên ít chịu ảnh hưởng của môi trường sống hơn các nhóm lứa tuổi khác. Lứa tuổi trên 45 là lứa tuổi đã hạn chế trong suy nghĩ và hành động, con người trong độ tuổi này thường bằng lòng với cuộc sống hiện tại, ngại thay đổi, thậm chí càng già, những đặc điểm tâm lý lại biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, như bảo thủ, không tuân theo ý kiến của ai.
Sự khác nhau trong cơ cấu tội phạm do những người phạm tội ở độ tuổi khác nhau thực hiện có sự ảnh hưởng nhất định trong quá trình tồn tại của con người, sự hình thành nhân cách trong từng giai đoạn phát triển của mỗi cá nhân và nhiệm vụ của tội phạm học cần phải nghiên cứu tác động của từng nhóm lứa tuổi trong việc hình thành các đặc điểm nhân thân xấu, có vai trò 12 quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Nhóm đặc điểm nhận thức, tâm lý Khi nghiên cứu nhóm đặc điểm về nhận thức, tâm lý của nhân thân người phạm tội, người nghiên cứu thường tập trung vào các đặc trưng về trình độ học vấn, nhu cầu, động cơ, mục đích phạm tội, ý thức pháp luật của người phạm tội. Trình độ học vấn phản ánh sự phát triển lý trí và hình thành nhân cách, tạo cho con người còn có thể lựa chọn được cách ứng xử đúng với các chuẩn mực xã hội, trình độ học vấn của con người cao thì mức độ nhận thức, hiểu biết về xã hội, pháp luật cao và khả năng kiểm soát, kiềm chế hành vi của mình tốt hơn do biết hành vi xử sự nào là trái pháp luật cần phải tránh thực hiện nên ít dẫn đến phạm tội, ngược lại người có trình độ học vấn thấp thường đi kèm với trình độ nhận thức và hiểu biết về pháp luật kém nên khả năng kiềm chế và kiểm soát được hành vi của mình trong những tình huống cụ thể kém. Nhiều vụ án xảy ra do người phạm tội thiếu hiểu biết về pháp luật, nhận thức về xã hội còn hạn chế.
Nhu cầu là động lực phát triển của mỗi con người, nhu cầu của con người đa dạng và vô cùng bao gồm nhiều mặt như nhu cầu về kinh tế, về văn hóa, chính trị, danh vọng, dục vọng… Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng, nó thúc đẩy con người hoạt động, nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối hành vi của con người càng cao.