Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay" được tác giả Lưu Bình Dương thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Tất Viễn, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 62380104), bảo vệ năm 2017.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tố tụng hình sự, nhà nước nhân danh công quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi phạm tội thông qua quyền công tố nhằm duy trì trật tự xã hội và xử lý tội phạm. Tuy nhiên, bên cạnh việc bảo vệ lợi ích công cộng, nhà nước cần bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia tố tụng, đặc biệt là quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Đối với một số tội phạm xâm hại trực tiếp đến quyền riêng tư cá nhân về thể chất, tinh thần và tài sản, việc khởi tố vụ án hình sự nếu chỉ thuần túy dựa trên ý chí công quyền đôi khi có thể gây thêm tổn thương về danh dự, uy tín hoặc đời sống tinh thần của nạn nhân. Do đó, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã ghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại (từ Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đến Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Thực tiễn thi hành các quy định này thời gian qua bộc lộ nhiều vướng mắc về phạm vi tội danh, chủ thể có quyền yêu cầu, cách thức thực hiện quyền cũng như hậu quả pháp lý khi rút yêu cầu khởi tố. Đồng thời, trước yêu cầu cải cách tư pháp và tinh thần Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự, việc nghiên cứu chế định này đặt ra bốn khoảng trống khoa học chính:

  1. Thiếu vắng các công trình tiếp cận toàn diện dưới giác độ điều chỉnh pháp luật thực định: làm rõ nhu cầu xã hội, sự tác động của các yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội, phương pháp và đối tượng điều chỉnh, cũng như triết lý tố tụng của quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại.
  2. Các công trình trước đây chủ yếu tập trung giải quyết bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, chưa có điều kiện làm rõ những vướng mắc và kiến nghị đối với các quy định mới phát sinh trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  3. Các nghiên cứu đã công bố chưa cung cấp đầy đủ hệ thống số liệu khảo sát, minh chứng thực tiễn về nhận thức và áp dụng pháp luật để đưa ra các giải pháp hướng dẫn thi hành thống nhất.
  4. Còn thiếu các công trình nghiên cứu chuyên khảo tiếp cận liên ngành, đa ngành và xã hội học pháp luật; ít công trình tiếp cận vấn đề điều chỉnh pháp luật dựa trên việc bảo vệ quyền của người bị hại với tính chất là quyền con người trong tư pháp hình sự.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật, điều chỉnh pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam; từ đó xác lập các định hướng và luận cứ khoa học nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả cơ chế điều chỉnh pháp luật trong giai đoạn hiện nay.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu:

    1. Phân tích, đánh giá bản chất pháp lý, nhu cầu khách quan điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc khởi tố vụ án hình sự; cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện pháp luật; cơ chế điều chỉnh và các yếu tố tác động đến điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.
    2. Phân tích, đánh giá pháp luật của một số quốc gia và mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới để rút ra kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam.
    3. Phân tích, làm rõ thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, chỉ ra những vướng mắc, bất cập.
    4. Đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam.
  • Câu hỏi nghiên cứu:

    1. Pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại được tiếp cận dưới giác độ nào? Bản chất và đặc điểm của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam là gì?
    2. Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng pháp luật và điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay được xác định như thế nào?
    3. Vai trò, hiệu quả điều chỉnh pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam ra sao và những yếu tố nào tác động đến quá trình điều chỉnh pháp luật này?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Nghiên cứu lý luận, thực tiễn pháp luật và thực hiện pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại tại Việt Nam; so sánh với quy định pháp luật của một số quốc gia có mô hình tố tụng điển hình, truyền thống pháp lý hoặc chế độ chính trị tương đồng.
    • Về không gian và thời gian: Các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2016. Hệ thống số liệu giải quyết các vụ án được tổng hợp, phân tích và đánh giá từ năm 2010 đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật và phân loại tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo phạm vi địa lý và nội dung học thuật:

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Các nghiên cứu ngoài nước tập trung vào chế định quyền tư tố (private criminal prosecutions), quyền truy tố cá nhân và vị trí pháp lý của người bị hại trong các mô hình tố tụng:

  • Khu vực Châu Mỹ: Công trình "Seeking Justice through the Criminal Justice System" (2010) của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ khảo sát thực trạng bảo vệ quyền của các bên tham gia tố tụng hình sự; bài viết "Let’s Revive Private Criminal Prosecutions" của Hiệp hội nghiên cứu Hiến pháp Hoa Kỳ vận động ghi nhận quyền truy tố cá nhân; bài viết của GS Richard S. Shine về mô hình tố tụng hình sự liên bang Hoa Kỳ phân tích tính chất công tố tuyệt đối, vai trò người bị hại chỉ như nhân chứng và cơ chế mặc cả nhận tội.
  • Khu vực Châu Úc: Báo cáo "Victims of Crime: An Overview of Research and Policy" (1998) của Viện Tội phạm học Australia phân tích chính sách bảo vệ quyền nạn nhân và xu hướng mở rộng quyền cho người bị hại.
  • Khu vực Châu Âu: Công trình "Transition of criminal procedure systems" (2004) của Pavisic Berislav nghiên cứu chuyển đổi tố tụng tại Nga, Ba Lan, Đức, Pháp, Thụy Điển, Phần Lan, Síp, phân loại phạm vi áp dụng quyền tư tố và vai trò độc lập hoặc phụ thuộc của người bị hại; nghiên cứu của Irving R. so sánh tố tụng Anh và Hoa Kỳ trong khởi động tố tụng; nghiên cứu của TS Marco Fabri về mô hình tố tụng Cộng hòa Italia với cơ chế yêu cầu khởi tố (querela) đối với tội phạm ít nghiêm trọng; nghiên cứu của Jean Philippe Rivaud về mô hình Cộng hòa Pháp với cơ chế hòa giải, bồi thường để công tố viên miễn tố; nghiên cứu của GS William Burnham về Cộng hòa Liên bang Nga phân chia ba loại vụ án: công tố, công - tư tố và tư tố.
  • Khu vực Châu Á: Bài viết của Ngũ Hồng Quang (Đại học Dân tộc Quảng Tây) phân tích chế định tư tố song hành cùng công tố trong Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc; các bài viết của GS Byung-Sun Cho về mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ ra hai quốc gia này không thừa nhận quyền tư tố, quyền công tố thuộc về cơ quan công tố nhà nước và người bị hại đóng vai trò như nhân chứng.

Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu trong nước được chia thành hai nhóm chính:

  1. Nhóm nghiên cứu tổng thuật, so sánh pháp luật nước ngoài: Sách chuyên đề "Tư pháp hình sự so sánh" (Bộ Tư pháp, 1999); các ấn phẩm Thông tin Khoa học pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (số 01/2003, số 2+3/2003); cuốn sách "Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra" do TS Lê Hữu Thể chủ biên (2005).
  2. Nhóm nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam:
    • Các bài báo khoa học về áp dụng Điều 88 BLTTHS 1988 và Điều 105 BLTTHS 2003: Quốc Việt (1990), Nguyễn Đức Thuận (1998), Mai Bộ (1999), Đinh Xuân Hiền (2001), Phạm Mạnh Hùng (1999, 2003, 2007, 2016), Mai Văn Minh (2005), Hoàng Thị Liên (2008), Nguyễn Đức Thái (2009), Nguyễn Hải Ninh (2010), Trần Quang Tiệp (2006, 2010), Lưu Bình Dương (2016 trên Tạp chí Khoa học Kiểm sát và Tạp chí Công Thương).
    • Giáo trình, sách bình luận: GS.TS Võ Khánh Vinh (2004), PGS.TS Nguyễn Tất Viễn (2005, 2010), PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí (2013), GS.TSKH Đào Trí Úc (2015).
    • Luận văn, luận án: Luận văn thạc sĩ của Hoàng Phương Lan (2010), Thịnh Quang Thắng (2011); Luận án tiến sĩ của Lê Nguyên Thanh (2013), Đinh Thị Mai (2014), Nguyễn Đức Thái (2015).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã có, đồng thời tập trung giải quyết các nội dung chưa được nghiên cứu thấu đáo: tiếp cận dưới góc độ điều chỉnh pháp luật và xã hội học pháp luật; làm rõ triết lý tố tụng, cơ chế điều chỉnh và các yếu tố tác động; phân tích những điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trên nền tảng số liệu thực tiễn giai đoạn 2010 - 2015 để đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện toàn diện.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống lý thuyết và quan điểm nền tảng:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chiến lược cải cách tư pháp; các nguyên tắc hiến định của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo vệ quyền con người.
  • Lý thuyết về tính thống nhất của quyền lực nhà nước kết hợp phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Lý thuyết về chính sách hình sự và phòng ngừa tội phạm, nhấn mạnh nguyên lý pháp luật hình sự là giải pháp sau cùng (ultima ratio).
  • Lý thuyết bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự và lý thuyết về tính hiệu quả trong tố tụng hình sự.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy phạm, khái niệm và tổng hợp các luận điểm lý luận.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại trong chỉnh thể hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và các ngành luật liên quan.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành, đa ngành: Kết hợp khoa học pháp lý với xã hội học pháp luật, kinh tế học pháp luật; liên hệ giữa luật tố tụng hình sự với luật hình sự, luật hiến pháp, luật dân sự, luật tố tụng dân sự.
  • Phương pháp luật học so sánh: Phân tích, đối chiếu quy định của Việt Nam với các mô hình tố tụng tranh tụng, thẩm vấn và pháp luật các nước (Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc...).
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Khảo cứu quá trình phát triển của chế định qua các giai đoạn lập pháp (1988, 2003, 2015).
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân tích, xử lý số liệu giải quyết các vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của người bị hại trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015.
  • Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền (rights-based approach): Xem xét quyền yêu cầu khởi tố như một công cụ bảo đảm quyền con người của nạn nhân tội phạm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quyền của người bị hại, quyền tư tố và chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại. Tác giả phân tích những kết quả lý luận đã đạt được của các học giả đi trước về việc xác định địa vị pháp lý của người bị hại và các ranh giới giữa công tố và tư tố. Đồng thời, chương này chỉ ra các hạn chế trong các nghiên cứu trước đây: chủ yếu tiếp cận theo hướng mô tả luật thực định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, thiếu góc nhìn cơ chế điều chỉnh pháp luật, thiếu số liệu thực nghiệm đa chiều và chưa luận giải thấu đáo các quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 dưới góc độ quyền con người.

Chương 2. Những vấn đề lý luận pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự

Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng của chế định:

  • Khái niệm và giác độ tiếp cận: Khởi tố vụ án hình sự được phân tích dưới ba giác độ: (1) là giai đoạn đầu tiên của quy trình tố tụng hình sự; (2) là hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền; (3) là chế định pháp luật trong hệ thống tố tụng hình sự. Từ đó, luận án xác định khái niệm pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại là tập hợp các nguyên tắc, quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa cơ quan tiến hành tố tụng với người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp) khi họ thực hiện quyền yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án.
  • Bản chất pháp lý: Luận án khẳng định đây là "trường hợp đặc biệt" trong tố tụng hình sự. Trong khi cấu thành tội phạm theo luật hình sự là "điều kiện cần" thì yêu cầu khởi tố bằng văn bản của người bị hại là "điều kiện đủ" (căn cứ hình thức bắt buộc) để kích hoạt quyền công tố của nhà nước. Nếu thiếu điều kiện hình thức này, cơ quan tố tụng không được phép khởi tố vụ án.
  • Phương pháp và cơ chế điều chỉnh: Chế định áp dụng phương pháp điều chỉnh đặc thù là "ghi nhận và bảo đảm" quyền tự quyết định ý chí của người bị hại.
  • Các yếu tố tác động: Sự lựa chọn mô hình khởi tố chịu sự chi phối của kiểu mô hình tố tụng (Việt Nam thuộc mô hình pha trộn nghiêng về thẩm vấn, có tiếp thu các yếu tố tranh tụng), chính sách hình sự (coi xử lý hình sự là biện pháp sau cùng), và yêu cầu bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013. Tác giả chỉ ra rằng trong danh mục tội phạm khởi tố theo yêu cầu, có 16/17 tội danh xâm hại thể chất, nhân phẩm, danh dự của cá nhân và 01 tội danh xâm hại tổ chức (Điều 171 BLHS 1999 về sở hữu công nghiệp).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích mô hình tư tố độc lập tại Nga, tư tố phụ thuộc tại Đức, Pháp, cơ chế khởi tố theo yêu cầu (querela) tại Italia, và mô hình công tố thuần túy không thừa nhận tư tố tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Chương 3. Các quy định pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại và thực tiễn thực hiện

Chương 3 tập trung phân tích các quy định thực định và số liệu thực tiễn:

  • Quá trình lập pháp: Phân tích sự kế thừa và hoàn thiện từ Điều 88 BLTTHS 1988, Điều 105 BLTTHS 2003 sang Điều 155 BLTTHS 2015.
  • Nội dung quy định thực định: Luận giải các nhóm quy định về danh mục tội danh áp dụng; điều kiện về chủ thể có quyền yêu cầu; thủ tục thụ lý đơn yêu cầu; quyền rút yêu cầu khởi tố và hậu quả pháp lý của việc rút yêu cầu (đình chỉ vụ án, không có quyền yêu cầu lại trừ trường hợp chứng minh bị ép buộc, cưỡng bức).
  • Đánh giá thực tiễn thực hiện (2010 - 2015): Thông qua việc tổng hợp số liệu thực tiễn giải quyết án, chương 3 làm rõ hiệu quả bảo vệ quyền lợi nạn nhân, đồng thời nhận diện các vướng mắc:
    • Khó khăn trong việc xác định tư cách và năng lực hành vi của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần.
    • Tình trạng nhận thức chưa thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng về thời điểm và thủ tục tiếp nhận văn bản yêu cầu khởi tố.
    • Việc xử lý các trường hợp rút yêu cầu khởi tố tại các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm; nguy cơ người bị hại bị đe dọa, ép buộc rút đơn để người phạm tội trốn tránh trách nhiệm hình sự.
    • Vướng mắc trong giải quyết vấn đề bồi thường dân sự và hòa giải ngoài tố tụng tác động đến việc duy trì vụ án.

Chương 4. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 4 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Phương hướng hoàn thiện: Quán triệt các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp; thể chế hóa đầy đủ các quyền hiến định về quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của nhà nước với việc bảo vệ quyền tự quyết của người bị hại; hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự kết hợp hài hòa giữa thẩm vấn và tranh tụng.
  • Các giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện quy định pháp luật thực định: Rà soát, chuẩn hóa danh mục các tội danh khởi tố theo yêu cầu phù hợp với Bộ luật Hình sự năm 2015; quy định rõ ràng tiêu chí xác định người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền yêu cầu.
    2. Hoàn thiện thủ tục tố tụng: Quy định chi tiết hình thức văn bản yêu cầu khởi tố, quy trình tiếp nhận, kiểm tra tính tự nguyện; xác lập cơ chế tố tụng chặt chẽ để kiểm tra tính hợp pháp khi người bị hại rút yêu cầu nhằm ngăn chặn tình trạng ép buộc, mua chuộc.
    3. Xây dựng văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất: Ban hành thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể về hậu quả pháp lý của việc rút đơn tại từng giai đoạn tố tụng.
    4. Nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng: Tăng cường trách nhiệm giải thích quyền, nghĩa vụ cho người bị hại; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc giám sát, kiểm sát việc khởi tố vụ án theo yêu cầu.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                                    ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN                                        |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Phương diện                        | Nội dung đóng góp cụ thể                                      |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Về mặt lý luận                     | - Làm rõ khái niệm, nhu cầu xã hội và các yếu tố tác động đến |
|                                    |   pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại.   |
|                                    | - Luận giải nguyên lý điều chỉnh dựa trên phương pháp đặc thù |
|                                    |   là "ghi nhận và bảo đảm" quyền tự quyết của người bị hại.   |
|                                    | - Xác định bản chất pháp lý là trường hợp đặc biệt: yêu cầu   |
|                                    |   của bị hại là căn cứ hình thức phát sinh quyền công tố.     |
|                                    | - Phân tích vai trò của chế định: công cụ pháp lý bảo vệ      |
|                                    |   quyền con người, phương tiện thực hiện chính sách hình sự,  |
|                                    |   bảo đảm dân chủ và công bằng trong tố tụng.                 |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+
| Về mặt thực tiễn và giải pháp      | - Khái quát quá trình phát triển lập pháp từ BLTTHS 1988,     |
|                                    |   2003 đến 2015.                                              |
|                                    | - Đánh giá thực trạng áp dụng quy định dựa trên số liệu thực  |
|                                    |   tiễn giai đoạn 2010 - 2015, chỉ rõ các bất cập, vướng mắc.  |
|                                    | - Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và áp dụng pháp luật     |
|                                    |   đồng bộ, có tính khả thi trước mắt và lâu dài.              |
+------------------------------------+---------------------------------------------------------------+

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu các quy định và thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2016, với số liệu giải quyết các vụ án hình sự tập trung trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015. Tại thời điểm hoàn thành luận án (năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vừa được ban hành và chuẩn bị có hiệu lực thi hành đầy đủ, do đó chưa có nguồn số liệu thực tiễn phong phú về việc áp dụng Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong dài hạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi, khảo sát và tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại; nghiên cứu chuyên sâu các cơ chế bảo vệ nạn nhân trước áp lực đe dọa, mua chuộc trong bối cảnh phát triển của tội phạm công nghệ cao và các tranh chấp sở hữu trí tuệ, kinh doanh thương mại.

Giá trị tham khảo

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn có giá trị:

  • Đối với cơ quan lập pháp và các cơ quan ban hành văn bản: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc tiếp tục rà soát, giải thích luật và xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến quyền của người bị hại.
  • Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án): Cung cấp các phân tích tình huống thực tiễn, hỗ trợ cán bộ tư pháp thống nhất nhận thức và quy trình xử lý đơn yêu cầu, thủ tục rút đơn và các biện pháp bảo đảm tính tự nguyện của người bị hại.
  • Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạm học và chuyên đề về bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất pháp lý của chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại được luận án xác định như thế nào?

Luận án xác định đây là một "trường hợp đặc biệt" của khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp này, các yếu tố cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự là "điều kiện cần" (căn cứ nội dung), còn yêu cầu khởi tố của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp là "điều kiện đủ" (căn cứ hình thức). Yêu cầu của người bị hại là điều kiện tiên quyết để phát sinh quyền công tố của nhà nước đối với nhóm tội phạm do luật định.

2. Vì sao pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam không quy định "quyền tư tố" độc lập mà chỉ quy định "quyền yêu cầu khởi tố"?

Việt Nam vận hành theo mô hình tố tụng pha trộn nghiêng về thẩm vấn và giữ vững nguyên tắc công tố thuộc về nhà nước (thông qua Viện kiểm sát). Nhà nước không chuyển giao trách nhiệm điều tra, truy tố và chứng minh tội phạm cho cá nhân nạn nhân. Do đó, người bị hại chỉ có quyền yêu cầu nhà nước phát động tố tụng mà không phải tự mình thực hiện nghĩa vụ buộc tội độc lập như trong mô hình tư tố thuần túy ở một số quốc gia.

3. Phương pháp điều chỉnh đặc thù của pháp luật về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại là gì?

Luận án luận giải phương pháp điều chỉnh đặc thù là "phương pháp ghi nhận và bảo đảm" quyền tự quyết định ý chí của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong việc khởi phát hoặc chấm dứt tố tụng hình sự (thông qua quyền yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố), trong phạm vi và giới hạn do pháp luật tố tụng quy định.

4. Trong pháp luật thực định được nghiên cứu, cơ cấu nhóm tội phạm khởi tố theo yêu cầu của bị hại có đặc điểm gì?

Theo các quy định pháp luật thực định được phân tích trong luận án, danh mục tội phạm khởi tố theo yêu cầu tập trung chủ yếu vào các tội phạm xâm phạm quyền riêng tư cá nhân (sức khỏe, danh dự, nhân phẩm) với tỷ lệ 16/17 tội danh, và chỉ có 01 tội danh thuộc nhóm xâm hại cơ quan, tổ chức (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 171 BLHS năm 1999).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lưu Bình Dương là công trình nghiên cứu chuyên khảo về pháp luật và điều chỉnh pháp luật đối với chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam. Tác giả đã làm rõ bản chất pháp lý của quyền yêu cầu khởi tố như một căn cứ hình thức để phát sinh quyền công tố, phản ánh phương pháp ghi nhận và bảo đảm quyền tự quyết của nạn nhân. Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và tổng kết thực tiễn áp dụng giai đoạn 2010 - 2015, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả thi hành, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.