Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 1. Khái niệm hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước Trong quá trình xuất kinh doanh và phân phối phẩm hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân, hóa đơn xuất hiện phổ biến như một bằng chứng chứng minh có sự giao dịch mua bán cũng như đảm bảo quyền lợi của bên mua, bên bán trong quan hệ mua bán. Trong Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ đã định nghĩa: “Hóa đơn là giấy ghi hàng đã bán cùng với giá tiền để làm bằng chứng hay nói cách khác rõ hơn, hóa đơn là bảng liệt kê danh sách các hàng hóa cùng với các thông tin liên quan về hàng hóa và việc chuyển giao hàng hóa mà bên chuyển giao giao cho bên nhận được” [33, tr.
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: “Hóa đơn là giấy người bán đưa cho người mua hàng để là bằng chứng đã trả tiền” [39, tr. 472] mà cụ thể hơn đó là “giấy ghi các chỉ số như: tên người mua hàng, loại hàng bán ra, giá tiền để làm chứng từ” [2,tr. Với định nghĩa này, hóa đơn luôn tồn tại dưới hình thức giấy và là phương tiện ghi nhận quan hệ mua bán hàng hóa giữa bên bán hàng và bên mua hàng trong hoạt động giao dịch dân sự nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng. Cũng theo định nghĩa này thì hóa đơn chỉ được sử dụng hạn hẹp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, còn vai trò trong các hoạt động cung ứng dịch vụ chưa được ghi nhận.
Mặc dù trên thực tế hiện nay chưa có một cách hiểu thống nhất tuyệt đối về khái niệm của hóa đơn. Nhưng với sự phát triển của xã hội cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì thuật ngữ hóa đơn ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn trong hoạt động kinh tế và đặc biệt là trong hoạt động mua bán hàng hóa, hóa đơn có một vai trò đặc biệt quan trọng, không những là bằng chứng cho các giao dịch mua bán các loại hàng hóa, thể hiện giá trị bằng tiền của từng loại hàng hóa, mà hóa đơn 10 luan an còn là công cụ hữu hiệu để cơ quan nhà nước quản lý nền kinh tế, quản lý thuế, thu nộp thuế vào NSNN. Chính vì vậy, ngoài cách biểu hiện thông thường qua các khái niệm hóa đơn nêu trên thì khái niệm hóa đơn được khai thác sâu hơn, cụ thể hóa trong các văn bản pháp lý chuyên ngành và vai trò hóa đơn ngày càng được khẳng định và mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ, đặc điểm, phân loại hóa đơn cũng có nhiều thay đổi và trở nên đa dạng hơn, theo đó: “Hoá đơn là chứng từ được in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của Nhà nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ” [15, Điều 3, Khoản 1]. Tuy nhiên, để phản ánh đúng hơn về bản chất của hóa đơn trong nền kinh tế thị trường thì khái niệm về hóa đơn đã có sự thay đổi khi Nghị định số 51/2010/NĐ- CP [16] và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP [17], theo đó “Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 51/2010/NĐ-CP [16] ra đời là sự thay thế có nhiều điểm kế thừa của Nghị định số 89/2002/NĐ-CP [15] nhằm tạo cơ chế linh hoạt hơn nữa cho các chủ thể trong quá trình in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn, chứng từ. Khái niệm về hóa đơn được tiếp tục ghi nhận lại từ Nghị định số 51/2010/NĐ- CP [16] tại quy định của Thông tư 39/2014/TT-BTC, theo đó ““Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật. Hiện nay, khái niệm về hóa đơn theo quy định pháp luật về thuế có sửa đổi như sau: “Hóa đơn là chứng từ kế toán do tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của luật kế toán” [12, Khoản 1, Điều 3]. Qua đó cho thấy rằng pháp luật Việt Nam đã nhận định hóa đơn theo thước đo về giá trị pháp lý, xem hóa đơn là “bằng chứng” xác lập mối quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa – dịch vụ, các thông tin về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia 11 luan an giao dịch mua – bán, trao đổi phải được đảm bảo.
Giá trị, khối lượng của hàng hóa, dịch vụ mua – bán, trao đổi được ghi nhận trên hóa đơn có thể được hiểu chính là thông tin hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh đó, hóa đơn còn được xem là một chứng từ để hạch toán kế toán nhằm xác định chi phí hợp lệ, hợp lý, hợp pháp khi thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước và các vấn đề pháp lý khác xoay quanh. Qua các khái niệm trên, cho thấy hóa đơn là chứng từ nhưng chứng từ không có nghĩa là hóa đơn trong tất cả các trường hợp. Luật số 83/2015/QH13 [27], có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017 ghi nhận thu NSNN bao gồm “a) Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; b) Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; c) Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; [27, Khoản 1 Điều 5].
Trong các khoản thu NSNN, thuế là một khoản thu có tính chất bắt buộc của Nhà nước đối với các thể nhân, pháp nhân và có tỷ trọng đóng góp lớn nhất và quan trọng nhất của NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Hóa đơn có chức năng rất quan trọng không những đối với bên mua, bên bán mà còn với các cơ quan quản lý thuế, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác. Hóa đơn có liên quan đến chứng từ thu nộp thuế nói riêng và chứng từ thu nộp NSNN nói chung. Chứng từ thu nộp NSNN có thể hiểu là “ các chứng từ liên quan đến toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương”.
Hóa đơn là chứng từ, chứng từ thu nộp NSNN nói chúng, chứng từ thu nộp thuế nói riêng cũng là chứng từ được in, phát 12 luan an hành, quản lý, sử dụng theo quy định của Luật thuế, Luật quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật khác dùng để quản lý thu thuế cho NSNN. Hóa đơn vừa là chứng từ dùng làm cơ sở ban đầu cho việc kê khai, khấu trừ, hạch toán chi phí, xác định chi phí thuế, hoàn thuế vừa là cơ sở cho viện thanh tra, kiểm tra của Cơ quan thuế đối với tình hình hoạt động xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhằm xác định chính xác nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, qua đó kịp thời phát hiện ra những trường hợp gian lận thuế, trốn thuế, chiếm đoạt thuế của các đối tượng liên quan bằng cách lợi dụng những chính sách này để thực hiện các hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN. Hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước bao gồm: “Hóa đơn xuất khẩu dùng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hóa đơn giá trị gia tăng; hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng; các hoá đơn khác gồm: tem, vé, thẻ, phiếu thu tiền bảo hiểm, .và phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế, chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng; Lệnh thu nộp ngân sách nhà nước, giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước, bảng kê nộp thuế, biên lai thu ngân sách nhà nước và chứng từ phục hồi trong quản lý thu ngân sách nhà nước” [13, Khoản 1, Điều 2]. Khái niệm về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN Qua những phân tích trên thì hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là các loại hóa đơn, tài liệu, giấy tờ được khởi tao, in, phát hành và sử dụng theo các hình thức và thủ tục của pháp luật về thuế, kế toán, tài chính, hải quan, thu nộp ngân sách Nhà nước … liên quan đến hoạt động thu nộp NSNN.
Trên cơ sở đó, chúng ta có định nghĩa về tội này như sau: Tội in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước được hiểu là hành vi in, phát hành, mua bán hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phô từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000 đồng đến 13 luan an dưới 100. Dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN Cũng như các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp NSNN có khách thể là các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân trong từng lĩnh vực nhất định. Cụ thể là các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán mà hóa đơn, chứng từ được sử dụng để thực hiện nghĩa cụ nộp NSNN.