CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CƯỚP 7 Luan van GIẬT TÀI SẢN. Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản 1. Khái niệm tội cướp giật tài sản Theo quy định của Điều 8 BLHS Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [7, Điều 8]. Tội cướp giật tài sản trước đó đã từng được quy định tại điều 136 Bộ luật hình sự 1999 và tại Điều 131 và Điều 154 Bộ luật hình sự năm 1985.
Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội cướp giật tài sản Điều 171 không mô tả cụ thể những dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản mà chỉ nêu tội danh. Các nhà lập pháp không miêu tả cụ thể những dấu hiệu của Tội cướp giật tài sản mà chỉ nêu tội danh cướp giật tài sản như sau: “Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt…”. Tuy còn nhiều quan điểm chưa thống nhất với nhau và chưa có một định nghĩa chuẩn xác từ phía nhà lập pháp nhưng xuất phát từ lý luận và thực tiễn xét xử, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm: “Tội cướp giật tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý bằng cách công khai bất ngờ chiếm đoạt tài sản của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát”. Đặc điểm của Tội cướp giật tài sản là được thực hiện hành vi phạm tội 8 Luan van một cách cố ý, người phạm tội đã lợi dụng sơ hở của người đang quản lý tài sản để giật lấy tài sản một cách nhanh chóng mà người quản lý tài sản khó có thể giữ được hoặc giằng lại được.
Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, đối tượng có thể phải sử dụng một lực nhất định tác động nhằm nhanh chóng chiếm đoạt tài sản làm cho chủ sở hữu không kịp phản ứng. Do đó, tài sản mà người phạm tội cướp giật chỉ có thể là loại tài sản gọn nhẹ như: dây chuyền vàng, đồng hồ, hoa tai, điện thoại, túi xách… Một số trường hợp người phạm tội cướp giật cả những tài sản cồng kềnh, to lớn khác như xe đạp, xe máy vì sau khi tội phạm giật được tài sản lại dùng ngay những tài sản đó làm phương tiện để tẩu thoát. Yếu tố bất ngờ cũng là một dấu hiệu đặc trưng của loại tội phạm này. Hành vi giật tài sản của người phạm tội được thực hiện một cách nhanh chóng và công khai, tội phạm không có ý định che dấu hành vi của mình đối với chủ sở hữu tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc đối với những người khác.
Đây là một trong những đặc trưng để phân biệt tội cướp giật tài sản với những trường hợp phạm tội khác như: tội trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không có tính công khai, nhanh chóng. Tính công khai của hành vi cướp giật tài sản là công khai với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản là bị giật tài sản, hành vi giật tài sản một cách nhanh chóng đã tạo ra yếu tố bất ngờ với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản làm cho những người này không có khả năng giữ được tài sản đang quản lý. Vì vậy, nếu người phạm tội thực hiện hành vi vào ban đêm hay có những thủ đoạn làm cho chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản không đề phòng thì hành vi phạm tội vẫn là hành vi cướp giật. Dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản a.
Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm nói chung là những quan hệ xã hội được pháp 9 Luan van luật hình sự bảo và bị các hành vi phạm tội xâm hại đến. Việc quy định những quan hệ xã hội nào được luật hình sự bảo vệ là khách thể của tội phạm phụ thuộc vào ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội nhưng thường là các quan hệ xã hội quan trọng trong đời sống xã hội. Khách thể bị xâm hại trực tiếp của Tội cướp giật tài sản là quyền sở hữu đối với tài sản của người sở hữu tài sản. Những tài sản bị nhà nước cấm lưu hành như vũ khí quân dụng, băng đĩa hình đồi trụy, ma túy, pháo nổ,.
không là đối tượng của tội cướp giật tài sản. Tội cướp giật tài sản ngoài khách thể chủ yếu bị xâm phạm là tài sản còn xâm phạm các quan hệ nhân thân. Nhiều vụ cướp giật tài sản hiện nay đã gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại có trường hợp dẫn đến chết người. Tuy những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ không phải là đối tượng chính mà người phạm tội xâm hại, nhưng trước khi thực hiện hành vi cướp giật, người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu quả nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn thực hiện để mặc cho hậu quả xảy ra.
Do đó BLHS năm 2015 khi quy định tội cướp giật tài sản đã đưa vào trong cấu thành dấu hiệu về thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ và coi đây là những tình tiết định khung hình phạt. Như vậy, xác định khách thể của tội cướp giật tài sản là các quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân là hoàn toàn phù hợp với lý luận cũng như thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong điều kiện hiện nay. Mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là sự tổng hợp các dấu hiệu bên ngoài của tội phạm, có những dấu hiệu như: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tác hại do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả tác hại, thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện và công cụ thực hiện 10 Luan van tội phạm. Điều luật không mô tả cụ thể hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản, tuy nhiên căn cứ vào khái niệm, vào các yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản thì tội cướp giật tài sản có những hành vi sau: Dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai, nhanh chóng.
Trong đó, chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu (nắm giữ, quản lý) trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó. Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong điều luật. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt không ảnh hưởng tới việc định tội đối với hành vi cướp giật tài sản. Thông thường, hành vi giật tài sản một cách nhanh chóng đã tạo ra yếu tố bất ngờ đối với chủ sở hữu hoặc người người đang quản lý tài sản làm cho những người này không có khả năng bảo vệ được tài sản mà mình đang quản lý.
Một số trường hợp người phạm tội muốn tạo ra yếu tố bất ngờ đối với chủ sở hữu hoặc đang quản lý tài sản nhưng thủ đoạn phạm tội không làm cho chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản bị bất ngờ nên người phạm tội không thực hiện được hành vi giật tài sản. Hành vi giật tài sản của người phạm tội được thực hiện một cách công khai, người phạm tội không có ý thức che giấu hành vi của mình. Đây cũng là một đặc trưng để phân biệt với những trường hợp phạm tội khác. Tính chất công khai của hành vi cướp giật tài sản là công khai với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản là bị giật chứ không phải công khai với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản về thân phận của người phạm tội.
11 Luan van Về hậu quả: Hậu quả của tội cướp giật tài sản là tài sản bị của người sở hữu bị chiếm đoạt. Ngoài ra còn có thể xảy ra thiệt hại về sức khỏe, thân thể, tính mạng của nạn nhân. Người phạm tội cướp giật tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự dù có hậu quả xảy ra hay không. Tức là chỉ cần có hành vi nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn phải chịu trách nhiệm.
Ngoài ra giá trị tài sản ít hay nhiều cũng không làm ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự mà đây sẽ là một trong những yếu tố để định khung hình phạt. Mặt chủ quan của tội phạm Mặt chủ quan của tội phạm ở đây là yếu tố lỗi của tội phạm, đối với tội cướp giật tài sản, lỗi ở đây là lỗi cố ý trực tiếp. Tức là người phạm tội biết rõ hành vi cướp giật tài sảnlà vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích vụ lợi, chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp. Tội cướp giật tài sản được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức được hành vi giật tài sản là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với mong muốn là chiếm đoạt được tài sản.
Tội cướp giật tài sản không quy định dấu hiệu động cơ là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Căn cứ vào mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội cướp giật tài sản thì người phạm tội phải có động cơ tư lợi, mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu và lợi ích bản thân. Động cơ đã thúc đẩy, tạo động lực để người phạm tội thực hiện hành vi đến cùng. Mục đích của tội cướp giật tài sảnlà để chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội cướp giật tài sản là chủ thể thường, tức là bất cứ ai có năng lực trách nhiệm hình sự đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.