CHƯƠNG 1 7 Luan van MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Khái niệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Sức khỏe là tài sản vô giá của mỗi con người. Có nhiều cách hiểu khác nhau về sức khỏe.
Theo cách hiểu thông thường hiện nay, sức khỏe được hiểu là tình trạng cơ thể bình thường, không có bệnh tật hoặc không có thương tật ảnh hưởng đến thể chất bình thường của con người. Quan điểm khác lại cho rằng: “Sức khỏe của con người là tình trạng sức lực của con người đang sống trong điều kiện bình thường, cho nên sức khỏe thực ra là trạng thái tâm lý, sự hoạt động hài hòa trong cơ thể tạo nên khả năng chống lại bệnh tật” [11, tr. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Sức khỏe của con người là trạng thái đầy đủ về thể chất, tâm thần mà không chỉ có nghĩa là không có bệnh hay thương tật; cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có hiệu quả” [10, tr. Xâm phạm sức khỏe con người là tác động bên ngoài làm cho người bị xâm hại mất đi một phần hay toàn bộ sức lực có sẵn của chính người đó gây ảnh hưởng đến quá trình sinh hoạt làm việc bình thường của họ.
Hành vi này xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của con người, đến quyền được bảo vệ về sức khoẻ của con người được pháp luật ghi nhận. Hành vi dùng sức mạnh vật chất bằng nhiều phương pháp tác động lên thân thể của con người làm cho họ có 8 Luan van những thương tích. Thương tích này có thể là vết thương thẩm mỹ, nghiêm trọng hơn có thể mất đi một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể như mất bàn tay, cánh tay, bàn chân.để lại cơ thể không lành lặn. Hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của con người làm cho tình trạng sức khỏe của nạn nhân yếu đi không còn duy trì bình thường như trước.
Tổn hại cho sức khỏe của người khác mặc dù không để lại vết thương hoặc làm mất chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân nhưng làm giảm chức năng hoạt động của bộ phận đó. Như vậy, có thể hiểu “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” là hành vi bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau tác động lên cơ thể của người khác làm cho họ mất đi một phần hoặc toàn bộ sức lực của họ. Tác giả đưa ra khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe dựa trên cơ sở các phân tích nêu trên các quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015 như sau: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe của con người, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý”. Những dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác - Khách thể của tội phạm: khách thể trực tiếp chính là sức khỏe con người.
Khách thể của tội phạm nói chung là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị các hành vi phạm tội xâm hại đến nên cũng như những tội xâm phạm đến quyền sở hữu khác. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 BLHS 2015 có quy định xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người. Bất kỳ ai xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của con người đều bị trừng trị thích 9 Luan van đáng nên điều luật cũng quy định hình phạt nghiêm khắc nhất là chung thân, thể hiện thái độ của nhà nước với tội phạm này một cách kiên quyết. - Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm là sự tổng hợp các dấu hiệu do luật hình sự quy định và các tình tiết phản ánh hành vi bên ngoài của sự xâm hại cụ thể nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự bao gồm các yếu tố sau: hành vi khách quan; hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và hậu quả xảy ra trên thực tế.
Trong đó, hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là dấu hiệu cơ bản và quan trọng nhất, các dấu hiệu khác như: hậu quả, mối quan hệ nhân quả, công cụ, phương tiện phạm tội… chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan. Tội cố ý gây thương tích được thể hiện qua hành vi dùng vũ lực có hoặc không sử dụng vũ khí hoặc thủ đoạn khác tác động lên cơ thể ngưòi khác gây tổn thương cho họ. Hành vi này có thể được thực hiện với công cụ, phương tiện, vũ khí để phạm tội như đâm, chém, bắn…hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội như dùng tay chân đấm, đá hoặc có thể thông qua các phương tiện phạm tội khác như dùng xe lao vào người, thả súc vật cắn. hành vi khách quan của tội này thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động.
Hậu quả của tội cố ý gây thương tích cho người khác là để lại vết thương và được xác nhận bằng kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân. Đây là thiệt hại gây ra cho quan hệ nhân thân, cho quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người được thể hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất, là những thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác. Việc xác định có hậu quả xảy ra trên thực tế có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội và có vai trò quan trọng trong việc quyết định hình 10 Luan van phạt. Nếu tỷ lệ thương tật hoặc tổn hại sức khỏe dưới 11%, không gây cố tật thì không phải chịu TNHS.
Tỷ lệ thương tật hoặc tổn hại sức khỏe từ 11% trở lên thị bị truy cứu TNHS. Tuy nhiên, có một số trường hợp tỷ lệ thương tật hoặc tổn hại sức khỏe không đến 11% nhưng lại thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 thì hành vi đó vẫn bị truy cứu TNHS. Như vậy, hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp sau thì cũng phạm tội: a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 được chia thành 4 tình tiết tương ứng với việc người phạm tội dùng “vũ khí”, “vật liệu nổ” (đây là hai tình tiết mới bổ sung), “hung khí nguy hiểm” và “thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người”. Về nội hàm của quy định thì “vũ khí” thuộc một trong các dạng của “hung khí nguy hiểm”, do vậy, so với quy định cũ, điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự mới chỉ có bổ sung thêm việc dùng “vật liệu nổ” là tình tiết định khung cơ bản.
Tình tiết này, trước khi được sửa đổi năm 2017 thì điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định là “Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên”. Một vấn đề nữa chúng ta cần lưu ý về sự thay đổi ở nội dung của tình tiết “dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người” của quy định cũ với tình tiết “dùng thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người” của quy định mới. Việc bổ sung từ “có khả năng” vào tình tiết này giải quyết dứt điểm vướng mắc trong thực tiễn trước đây là người phạm tội có “dùng thủ đoạn” nhưng thực tế sau khi tội phạm hoàn thành thì “chưa xảy ra hậu quả gây nguy hại cho nhiều người” – điều này dẫn đến thiếu thống nhất và tạo sự lúng túng trong áp dụng 11 Luan van pháp luật, nhất là trong hoạt động tố tụng; quy định mới này xác định rõ là không cần chờ đến hậu quả “gây nguy hại cho nhiều người” xảy ra, mà chỉ cần chứng minh được “thủ đoạn” đó đã được thực hiện và “có khả năng” gây nguy hại cho nhiều người. b) Dùng a - xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm Hóa chất nguy hiểm được định nghĩa tại Khoản 5 Điều 3 Thông tư 04/2012/TT-BCT quy định phân loại và ghi nhãn hóa chất do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành, bao gồm các đặc tính như dễ nổ, ăn mòn mạnh, oxy hóa mạnh.
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc không có khả năng tự vệ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ. Đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự mới đối với cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác để đáp ứng yêu cầu của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong tình hình hiện nay, được áp dụng đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện từ ngày 01/01/2018. Tình tiết này là tổng hợp của 4 dấu hiệu định khung có tính chất nguy hiểm tương đương nhau được quy định chung trong cùng một điểm của điều luật, đó là: phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai, phạm tội với người già yếu và phạm tội với người không có khả năng tự vệ. Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi.
BLHS hiện hành đã cụ thể hóa quy định về giới hạn độ tuổi, trong đó thay thế thuật ngữ “trẻ em” trước đây bằng thuật ngữ xác định rõ độ tuổi là “người dưới 16 tuổi”. Quy định này tạo sự rõ ràng, thống nhất trong việc áp dụng quy định của BLHS.