Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác 1.1 Khái niệm tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Sức khỏe của con người là trạng thái đầy đủ về thể chất, tâm thần mà không chỉ có nghĩa là không có bệnh hay thương tật; cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có hiệu quả. Xâm phạm sức khỏe con người được hiểu là thông qua sự tác động làm cho người đó mất đi một phần hay toàn bộ sức lực có sẵn của chính người đó làm họ khó khăn trong cử động, hoạt động so với trước khi họ bị hành vi xâm hại tác động tới. Hành vi gây thương tích cho người khác được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của con người, làm cho con người có những thương tích nhất định, mất đi một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể như mất bàn tay, bàn chân, cánh tay,. để lại trạng thái bất thường.
Bộ Luật Hồng Đức - Bộ luật của triều đại nhà Lê, bộ luật chính thống và quan trọng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam đã quy định về tội cố ý gây thương tích cụ thể tại điều 465, 466, 467, 468, 469. Theo điều 465 Bộ luật Hồng Đức “Đánh người bằng chân tay không thì bị xử phạt 60 trượng, bằng một vật 6 Luan van gì thì xử phạt 80 trượng; nặng hơn nữa thì biếm một tư; phạt tiền tổn thương và tiền tạ như luật; đánh chết người thì phải tội đánh giết người. Xui người ta đánh dẫu mình không có mặt lúc đánh nhau cũng xử một tội” [63] Có thể thấy, các nhà làm luật phong kiến quy định về tội CYGTT chỉ thiên về các dấu hiệu hình thức đơn giản, tỷ lệ thương tích để quyết định hình phạt mang tính ước lượng và hình phạt áp dụng mang tính chất tra tấn, nhục hình. Các BLHS sau này đã kế thừa, phát triển và hoàn thiện quy định tội danh cố ý gây thương tích và tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Điều 109 BLHS 1985 quy định tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có nội dung như sau: “a) Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác; b) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; c) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; d) Gây thương tích cho nhiều người hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người” [31, Điều 109]. Có thể thấy Điều 109 BLHS 1985 chỉ đưa ra các dấu hiệu để nhận biết tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác về mặt tình tiết, còn về mức độ tỷ lệ thương tật cụ thể được quy định tại các văn bản hướng dẫn khác. So sánh giữa khoản 1 Điều 109 BLHS năm 1985 và khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999 thì BLHS năm 1999 đã quy định cụ thể hơn về ranh giới giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự bằng cách lượng hóa tỉ lệ phần trăm thương tật của nạn nhân. Bộ luật hình sự năm 1999 đã cụ thể hóa các trường hợp tuy tỉ lệ thương tật dưới 11% nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự [38, tr.
BLHS 2015 quy định về tội CYGTT và tổn hại sức khỏe cho người khác tại Điều 134. BLHS năm 2015 đã khắc phục được những hạn chế, hoàn thiện về mặt kỹ thuật lập pháp so với BLHS năm 1999. Tuy nhiên trong các BLHS của nước ta đều chưa đưa ra định nghĩa về tội CYGTT và tổn hại sức khỏe cho người khác. Có quan điểm định nghĩa tội cố ý 7 Luan van gây thương tích là“ Tội cố ý gây thương tích và tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc thương tổn khác” [1, tr.
9], có quan điểm lại cho rằng“Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe” [35, tr. Xét một cách toàn diện, quan điểm trên đã phân tích tương đối bao quát các hành vi thế nào được coi là CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tuy nhiên lại chưa đầy đủ về mặt yếu tổ chủ thể. Yếu tố nội hàm của khái niệm tội CYGTT đó là: Hành vi cố ý của một người tác động vào cơ thể của người khác, gây tổn thương với một tỷ lệ theo quy định của luật và do người đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Dựa trên các phân tích đã nêu và các định nghĩa của một số nhà luật học, tác giả đưa ra khái niệm như sau: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi dùng sức mạnh vật chất cố ý tác động một cách trái pháp luật lên thân thể của người khác làm cho người đó mất đi một phần hoặc toàn bộ sức lực, gây thiệt hại đáng kể cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương trên cơ thể nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
Có thể thấy, tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bản chất là 02 tội ghép được quy định chung trong một điều luật, hành vi và hậu quả của chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nên được xếp chung vào một điều luật. Do đó, có thể hiểu cố ý gây thương tích là hành vi xâm phạm đến sức khỏe của con người nhưng thể hiện bằng các dấu vết có thể nhìn thấy được nên dấu hiệu bắt buộc của tội cố ý gây thương tích là hậu quả gây thương tích, vết thương trên cơ thể. Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi xâm phạm đến sức khỏe nhưng không thể hiện bằng các dấu vết ra bên ngoài, hậu quả bắt buộc 8 Luan van của nó là những tổn thương về mặt thần kinh, tâm lý (Ví dụ: bị sang chấn tâm lý, tâm thần…. Mặc dù đây đều là hành vi xâm phạm đến sức khỏe của con người và có những điểm tương đồng về dấu hiệu pháp lý, tuy nhiên theo nhiều quan điểm của các nhà luật học hiện nay thì nên tách tội cố ý gây thương tích và tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe thành hai tội danh độc lập.2 Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội cố ý gây thương tích 1.1 Khách thể của tội cố ý gây thương tích Khách thể trực tiếp của tội CYGTT và tổn hại cho sức khỏe của người khác là quyền bảo hộ sức khỏe của con người.
Tuy nhiên, hiện nay cũng có quan điểm cho rằng khách thể của tội cố ý gây thương tích và tổn hại cho sức khỏe của người khác không đơn thuần chỉ là quyền được bảo hộ sức khoẻ, mà còn là danh dự, nhân phẩm của người khác bởi lẽ sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của con người thường gắn kết chặt chẽ với nhau. Hiện nay có nhiều vụ việc hậu quả thương tích gây ra cho người khác về mặt thể xác có thể chữa lành, nhưng tổn thương về danh dự, nhân phẩm khi bị xâm phạm thì đôi khi mang theo suốt đời của người bị hại. Theo quan điểm bản thân tác giả cho rằng, nếu khách thể là danh dự và nhân phẩm bị xâm phạm thì sẽ cấu thành tội danh khác được pháp luật hình sự bảo vệ, còn đối với tội danh cố ý gây thương tích và tổn hại cho sức khỏe của người khác thì bản thân tên tội danh đã chỉ rõ khách thể của tội là quyền bảo hộ sức khỏe. Vấn đề thứ hai trong khách thể của tội cố ý gây thương tích và tổn hại cho sức khỏe của người khác đó là vấn đề con người.
Rõ ràng, thương tích hoặc tổn hại về sức khoẻ ở đây phải là của người còn đang sống. Người sống được hiểu là con người, từ lúc đã ra khỏi bụng mẹ cho đến khi ngừng hơi thở cuối cùng. Do đó, hành vi gây tổn hại đến sức khoẻ của bào thai không được coi là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác và hành 9 Luan van vi xâm phạm sức khoẻ người mẹ mang thai không thể coi là hành vi phạm tội đối với nhiều người mà theo quy định của luật nó là tình tiết tăng nặng. Nếu hành vi tác động vào đối tượng không phải là con người, không phải là người còn sống thì không xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe nên không sẽ không thể truy cứu tội cố ý gây thương tích và tổn hại cho sức khỏe của người khác; hoặc có trường hợp, một cá nhân tự gây thương tích cho chính mình thì cũng không thuộc đối tượng điều chỉnh của Điều 104 BLHS 1999 [52, tr.2 Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài cả tội phạm.
Bất kỳ tội phạm nào cũng được thể hiện ra bên ngoài, phản ánh thế giới khách quan mà con người có thể nhận biết được. Mặt khách quan của tội phạm có những dấu hiệu: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả và một số dấu hiệu khác của hành vi như: thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ, phương pháp và thủ đoạn phạm tội…[52, tr.28] Về mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, hành vi khách quan là dấu hiệu cơ bản và quan trọng nhất vì đây là tội cấu thành vật chất nên dấu hiệu bắt buộc của nó là: Hành vi nguy hiểm cho xã hội được thể hiện dưới dạng hành động, các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan như: Hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng có ý nghĩa trong việc quyết định tội danh và quyết định hình phạt. Hành vi khách quan có thể được thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động.