Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về tội hủy hoại tài sản 1. Khái niệm, đặc điểm của tội hủy hoại tài sản Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ thì “Hủy hoại” là động từ ghép, có nghĩa là: “làm cho hư hỏng đi, phá đi, cho tan nát” [34, tr. Hủy hoại tài sản được thực hiện bằng các phương pháp, cách thức khác nhau làm cho tài sản bị biến dạng hoặc làm cho tài sản mất hẳn không còn giá trị sử dụng như hiện trạng ban đầu.
Hình thức thực hiện hành vi hủy hoại tài sản có thể được thực hiện dưới dạng hành động phạm tội như đập phá tài sản, đốt tài sản,… nhưng cũng có thể thực hiện dưới dạng không hành động phạm tội như cố ý không tắt máy, không ngắt điện khi có sự cố dẫn đến máy hư hỏng hoàn toàn…. Chương XVI Các tội xâm phạm sở hữu được quy định trong BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015), về số lượng các điều luật (gồm 13 Điều luật) không thay đổi so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Các tội xâm phạm sở hữu được quy định trong BLHS năm 2015 từ Điều 168 BLHS đến Điều 180 BLHS. Tội phạm là một trong những chế định quan trọng được nghiên cứu trong pháp luật hình sự.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tội phạm: Theo GS. Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.Lê Thị Sơn thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt” [10, tr. Đồng quan điểm trên, trong cuốn giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, theo định nghĩa nội dung về tội phạm, thì “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt” [30,tr. 7 Luan van Theo TS.Trịnh Tiến Việt thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ” [36, tr.
Dựa vào các định nghĩa về tội phạm nêu trên có thể đưa ra khái niệm tội hủy hoại tài sản như sau: “Tội hủy hoại tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, được thực hiện một cách cố ý như đốt, đập phá… tài sản xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của chủ sở hữu và theo quy định phải bị xử lý hình sự”. Từ khái niệm tội hủy hoại tài sản, tội phạm này có 4 đặc điểm, đó là: - Thứ nhất, về tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội hủy hoại tài sản được hiểu là những hành vi cố ý đốt, đập, phá tài sản trái phép của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp tài sản, xâm phạm tới quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) của chủ tài sản, đây là những quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Hành vi hủy hoại tài sản bị coi là tội phạm trước tiên phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức đáng kể. Nếu hành vi hủy hoại tài sản có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội chưa đến mức đáng kể thì không được xem là tội phạm.
- Thứ ba, về tính được quy định trong BLHS. Tội hủy hoại tài sản được được quy định trong BLHS cụ thể tại Điều 178 BLHS. Đây là đặc điểm thể hiện hình thức pháp lý của tội phạm. Hành vi hủy hoại tài sản tuy có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đến mức đáng kể nhưng không được quy định trong BLHS thì cũng không phải là tội phạm [30, tr.
- Thứ tư, về tính phải chịu hình phạt của tội phạm này. Hành vi hủy hoại tài sản có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể, hành vi đó do chủ thể thực hiện với hình thức lỗi cố ý và được quy định trong BLHS coi là tội phạm thì tất yếu người thực hiện hành vi đó sẽ bị xử lý hình sự tức là phải chịu hình phạt và có thể bị áp dụng các biện pháp tư pháp. Hình phạt đối với 8 Luan van hành vi hủy hoại tài sản chính là hình thức thể hiện bản chất nguy hiểm của tội hủy hoại tài sản, thể hiện tính cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất nhằm răn đe và phòng ngừa đối với loại hành vi nguy hiểm đáng kể này [30, tr. Giữa tính phải chịu hình phạt với các đặc tính ở trên có mối quan hệ với nhau, qua đó tạo cơ sở để phân biệt tội hủy hoại tài sản với hành vi hủy hoại tài sản vi phạm pháp luật khác không bị xử lý bằng chế tài nghiêm khắc của pháp luật hình sự.
Như vậy, tội hủy hoại tài sản có đầy đủ các đặc điểm chung của tội phạm. Từ đó, là cơ sở phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội hủy hoại tài sản quy định tại Điều 178 BLHS năm 2015. “Tội hủy hoại tài sản là hành vi cố ý làm cho tài sản của người khác bị mất giá trị sử dụng ở mức độ không còn khả năng khôi phục lại được” [11, tr. Hành vi hủy hoại tài sản cấu thành tội phạm khi tài sản bị hủy hoại phải có trị giá từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 178 BLHS mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội hủy hoại tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; Tài sản là di vật, cổ vật.
Phân biệt tội hủy hoại tài sản với một số tội phạm khác có liên quan 1. Phân biệt tội hủy hoại tài sản với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180 BLHS) - Thứ nhất, hành vi khách quan của tội hủy hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản mất hoàn toàn giá trị sử dụng hoặc làm mất một phần giá trị sử dụng của tài sản. BLHS năm 2015 quy định những hành vi trên chỉ bị coi là tội phạm nếu tài sản bị hủy hoại có giá trị từ 2.000 đồng đến dưới 50.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 178 BLHS năm 2015. 9 Luan van Đối với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản thì hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi vi phạm (không tuân thủ hoặc tuân thủ không đúng, không đầy đủ) những quy định của pháp luật hoặc quy tắc sinh hoạt xã hội thông thường liên quan đến bảo vệ tài sản.
Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho tài sản của người khác có giá trị từ 100.000 đồng trở lên. - Thứ hai, về mặt chủ quan của tội phạm. Về dấu hiệu lỗi, ở tội hủy hoại tài sản quy định tại Điều 178 BLHS năm 2015, lỗi của người thực hiện hành vi hủy hoại tài sản thực hiện với lỗi cố ý. Còn ở tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản quy định tại Điều 180 BLHS năm 2015 thì lỗi của người phạm tội thực hiện với lỗi vô ý.
Dưới hình thức lỗi vô ý do quá tự tin, người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác trị giá 100.000 đồng trở lên nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Còn dưới hình thức vô ý do cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá 100.000 đồng trở lên, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó [40, tr. - Thứ ba, chủ thể của tội hủy hoại tài sản là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu TNHS. Chủ thể của tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 180 BLHS năm 2015 là bất kỳ người nào có năng lực TNHS.
Theo đó, chủ thể của tội phạm nay phải là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên. - Thứ tư, hình phạt áp dụng đối với người phạm tội hủy hoại tài sản nặng hơn so với hình phạt áp dụng đối với người phạm tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản. Cụ thể, các hình phạt chính áp dụng trong tội hủy hoại tài sản có hình phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Đối với hình phạt chính trong tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản là 10 Luan van hình phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ.
Đối với hình phạt tù, tội hủy hoại tài sản quy định mức phạt cao nhất đến 20 năm, còn tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản quy định mức phạt cao nhất đến 02 năm. Ngoài ra, tội hủy hoại tài sản còn quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 178 BLHS năm 2015. Phân biệt tội hủy hoại tài sản với tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242 BLHS) Khách thể của tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản là các quan hệ xã hội về bảo vệ và sử dụng hợp lý những nguồn lợi thủy sản. Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản [40, tr.
Còn khách thể của tội hủy hoại tài sản là quyền sở hữu tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối tượng tác động trực tiếp của tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản là các loài thủy sản sinh sống dưới nước. Còn đối tượng tác động của tội hủy hoại tài sản là tài sản bao gồm vật, tiền và giấy tờ có giá.