Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ luật học "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Hà Thị Hồng Thắm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Sỹ Sơn tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2024, chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, Mã số: 9.04).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với tài sản là quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm thực hiện và bảo vệ. Trong hệ thống các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, pháp luật hình sự đóng vai trò then chốt. Quy định về các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng đã được ghi nhận sớm trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam và liên tục được hoàn thiện qua các thời kỳ.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vẫn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc:

  • Khó khăn trong việc chứng minh ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội;
  • Xác định thời điểm hành vi cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
  • Xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt;
  • Định tội danh không chính xác trong các trường hợp hành vi có sự đan xen với các tội phạm khác (như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức);
  • Xu hướng hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế hoặc ngược lại, bỏ lọt tội phạm;
  • Áp dụng thiếu thống nhất đối với các tình tiết định tội, định khung hình phạt mới được bổ sung trong BLHS năm 2015, tiêu biểu như: "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội"; "tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ"; "lợi dụng thiên tai, dịch bệnh"; "lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp".

Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở các phạm vi và góc độ khác nhau, nhưng phần lớn các công trình chuyên sâu trước đây đều dựa trên nền tảng BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) hoặc chỉ tiếp cận ở phạm vi hẹp (định tội danh tại địa phương quy mô nhỏ, hoặc góc độ công tố trong giai đoạn điều tra). Chưa có công trình khoa học nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống từ lý luận, quy định pháp luật thực định đến thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm kinh tế lớn, nơi tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp, tinh vi và mang tính điển hình cao – trên cơ sở BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, phân tích các quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng có hiệu quả quy định của pháp luật hình sự đối với tội danh này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, xác định các vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
    2. Phân tích có hệ thống những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
    3. Phân tích nội dung quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và so sánh với pháp luật hình sự một số quốc gia trên thế giới về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
    4. Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh (tập trung vào định tội danh và quyết định hình phạt), chỉ ra kết quả, hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân.
    5. Phân tích các yêu cầu và đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Thế nào là lừa đảo chiếm đoạt tài sản? Tại sao phải quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS?
    • Giả thuyết nghiên cứu 1: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối. Hành vi này xâm phạm nghiêm trọng đến quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ. Việc quy định tội danh này trong BLHS là yêu cầu khách quan nhằm bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như thế nào? Việc thi hành những quy định này có những thuận lợi và vướng mắc ra sao ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và ở Việt Nam nói chung?
    • Giả thuyết nghiên cứu 2: Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được sửa đổi qua các thời kỳ lập pháp để đáp ứng tình hình mới. Tuy nhiên, một số quy định trong BLHS hiện hành còn thiếu cụ thể, chậm được hướng dẫn áp dụng, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây như thế nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu 3: Việc áp dụng pháp luật tại Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả nhưng vẫn tồn tại sai sót trong định tội danh và quyết định hình phạt do tính chất phức tạp của tội phạm, bất cập trong quy định và nhận thức, năng lực của chủ thể tiến hành tố tụng.
  • Câu hỏi nghiên cứu 4: Yêu cầu và những giải pháp cụ thể nào được đặt ra nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh?
    • Giả thuyết nghiên cứu 4: Cần xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ, từ hoàn thiện quy định của BLHS, ban hành văn bản hướng dẫn, phát triển án lệ đến nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ xét xử và bảo đảm các điều kiện thực thi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh; hệ thống quan điểm khoa học luật hình sự, quy định pháp luật hình sự Việt Nam và một số nước, thực tiễn áp dụng pháp luật tại địa bàn nghiên cứu.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Góc độ chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự.
    • Về lý luận: Khái niệm, đặc điểm, dấu hiệu pháp lý cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; phân biệt tội danh; lý luận điều chỉnh pháp luật hình sự và các nhân tố bảo đảm hiệu quả.
    • Về pháp luật thực định: BLHS Việt Nam hiện hành (năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017), tham chiếu các văn bản lịch sử (BLHS 1985, BLHS 1999) và pháp luật hình sự một số quốc gia.
    • Về thực tiễn áp dụng: Giới hạn ở chủ thể Tòa án nhân dân và người tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (Hội đồng xét xử), tập trung vào hai nội dung cốt lõi: định tội danh và quyết định hình phạt.
    • Về không gian và thời gian: Số liệu xét xử và các bản án điển hình được thu thập tại Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 11 năm (từ năm 2013 đến hết năm 2023).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại

Nghiên cứu sinh đã tiến hành phân loại và rà soát các công trình nghiên cứu trong nước theo ba nhóm nội dung chính:

  1. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
    • Luận án, luận văn: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Chí (2001) về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu; luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thanh (2016) về các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn TP.HCM; luận văn thạc sĩ của Trịnh Hồng Phương (2016) tại tỉnh Bắc Giang; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thùy Liên (2016) tại Trường Đại học Luật TP.HCM; luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Kim Oanh (2022) tại Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội; luận văn thạc sĩ của Lê Quang Ninh (2019) tại tỉnh Bình Phước; luận văn thạc sĩ của Trương Thị Đông (2015) tại tỉnh Đắk Lắk; luận văn thạc sĩ của Thái Xuân Trinh (2019) về dấu hiệu định tội; luận án tiến sĩ của Đoàn Công Viên (2018) và luận văn của Phạm Văn Tuấn (2014) tiếp cận dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa.
    • Sách chuyên khảo, bình luận khoa học và giáo trình: Sách bình luận BLHS năm 2015 của Đinh Văn Quế (Chương XVI); sách chuyên khảo "Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản" do PGS.TS Cao Thị Oanh chủ biên (Nxb Tư pháp, 2015); sách "Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009" của Nguyễn Mai Bộ (Nxb Chính trị quốc gia, 2010); các sách bình luận khoa học BLHS 2015 (sửa đổi 2017) của nhóm tác giả Trần Văn Luyện (Nxb CAND, 2017), Nguyễn Đức Mai (Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2018), GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (Nxb Tư pháp, 2017), Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng (Nxb Thế Giới, 2017), Lê Quang Thành (Nxb Lao động, 2020); các giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Học viện Khoa học xã hội (GS. Võ Khánh Vinh chủ biên, 2014), Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Trường Đại học Luật TP.HCM (2015).
    • Bài viết tạp chí chuyên ngành: Các bài viết của Nguyễn Thị Phương Thảo (2012), Nguyễn Mai Bộ (2018), Triệu Thị Tuyết (2019), Nguyễn Thị Xuân Thu (2018), Lê Thị Thùy Hương và Nguyễn Thu Quý (2021), Ngô Thùy Khánh Linh (2021), Bùi Trần Cường và Trần Thành Vinh (2021), Nguyễn Đức Hà (2021), Nguyễn Thị Minh Trang (2021), Nguyễn Quý Khuyến (2020), Đinh Văn Quế (2021).
  2. Nhóm các công trình nghiên cứu khía cạnh thực tiễn áp dụng pháp luật:
    • Luận án của Nguyễn Văn Thanh (2016) khảo sát thực tiễn tại TP.HCM giai đoạn 2011–2015; luận văn của Trịnh Hồng Phương (2016) tại Bắc Giang giai đoạn 2011–2015; luận văn của Nguyễn Thị Thùy Liên (2016) khảo sát số liệu toàn quốc giai đoạn 2010–2014; luận văn của Lê Quang Ninh (2019) tại Bình Phước giai đoạn 2014–2018; luận văn của Trương Thị Đông (2015) tại Đắk Lắk; luận văn của Vũ Thị Kim Oanh (2022) tại Hà Nam giai đoạn 2017–2021.
    • Sách của PGS.TS Cao Thị Oanh (2015) phân tích các sai sót thực tế như nhầm lẫn giữa tội phạm với tranh chấp dân sự, nhầm lẫn tội danh, áp dụng hình phạt quá nhẹ; các bài báo thực tiễn của Phạm Minh Tuyên (2020), Hoàng Quảng Lực (2021).
  3. Nhóm công trình về luật so sánh, chính sách hình sự và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật:
    • Sách chuyên khảo "Luật hình sự so sánh" của PGS. Hồ Sỹ Sơn (Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2018) đối chiếu học thuyết, chế định và quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản giữa Việt Nam và các quốc gia: Liên bang Nga, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Anh, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Ba Lan, Trung Quốc.
    • Các công trình định hướng chính sách hình sự: Sách chuyên khảo "Chính sách pháp luật" (2020) và "Chiến lược phát triển pháp luật Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" (2022) của GS.TS Võ Khánh Vinh; sách chuyên khảo "Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức cách mạng công nghiệp 4.0" do PGS.TS Trịnh Tiến Việt chủ biên (Nxb Tư pháp, 2020).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy:

  • Các nghiên cứu trước đây hoặc dựa trên BLHS năm 1999 đã hết hiệu lực, hoặc chỉ nghiên cứu một khía cạnh riêng lẻ (định tội danh, quyền công tố, phòng ngừa tội phạm học), hoặc khảo sát tại các địa phương có số lượng án không lớn.
  • Chưa có sự thống nhất về mặt lý luận xung quanh ranh giới giữa vi phạm pháp luật và tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản; nội dung của thủ đoạn gian dối; việc giải thích và áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng mới của BLHS năm 2015.
  • Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc áp dụng BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với tội danh này tại địa bàn đặc thù, quy mô lớn như Thành phố Hồ Chí Minh qua chuỗi số liệu 11 năm (2013–2023).

Do đó, luận án xác định giải quyết 04 vấn đề trọng tâm: (1) Làm rõ lý luận và phân biệt tội danh; (2) Phân tích quy định hiện hành và so sánh quốc tế; (3) Đánh giá toàn diện thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tại TP.HCM giai đoạn 2013–2023; (4) Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị lập pháp có tính khả thi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Lý thuyết về quyền con người: Quyền sở hữu tài sản là một bộ phận không thể tách rời của quyền con người, được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tước đoạt quyền năng sở hữu của chủ thể, đòi hỏi sự can thiệp của chế tài hình sự.
  • Lý luận về tội phạm trong Khoa học Luật hình sự: Khung phân tích cấu thành tội phạm (CTTP) truyền thống gồm 04 yếu tố: Khách thể, Chủ thể, Mặt khách quan và Mặt chủ quan. Vận dụng định nghĩa nội dung về tội phạm theo Điều 8 BLHS năm 2015 kết hợp với Điều 76 và Điều 174 BLHS hiện hành, cùng khái niệm tài sản theo Điều 105 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015.
  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và đấu tranh phòng chống tội phạm; tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học và khoa học xã hội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong việc phân tích các quan điểm khoa học, dấu hiệu pháp lý, nội dung điều luật và khái quát hóa các nhận định thực tiễn.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu xét xử sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án nhân dân hai cấp tại TP.HCM từ năm 2013 đến năm 2023; thống kê kết quả khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia.
  • Phương pháp so sánh:
    • So sánh lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam (BLHS 1985, 1999, 2015);
    • So sánh quy định pháp luật hình sự Việt Nam với 09 quốc gia (Nga, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ, Thụy Sĩ, Ba Lan, Trung Quốc);
    • So sánh tỷ lệ án và bị cáo giữa TP.HCM với tổng thể cả nước.
  • Phương pháp nghiên cứu án điển hình: Phân tích trực tiếp các bản án cụ thể của TAND tại TP.HCM nhằm chỉ ra các sai sót điển hình trong định tội danh và quyết định hình phạt.
  • Phương pháp hệ thống: Kết nối logic các chương mục, bảo đảm tính kế thừa từ lý luận đến thực tiễn và giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản pháp luật: Hiến pháp, BLHS (1985, 1999, 2015 sửa đổi 2017), BLDS năm 2015, các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của TAND Tối cao, VKSND Tối cao và liên ngành.
  • Dữ liệu thực tiễn: 1.763 hồ sơ vụ án và 2.303 bị cáo bị xét xử sơ thẩm, phúc thẩm tại TAND hai cấp TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 11 năm (2013–2023).
  • Các giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo tạp chí chuyên ngành luật học trong nước và tài liệu luật hình sự nước ngoài.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng kết có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành ba nhóm vấn đề (lý luận, thực tiễn, giải pháp), đánh giá các nội dung đã đạt được sự đồng thuận trong giới học thuật (về cấu trúc định tội, định khung, hai khía cạnh áp dụng pháp luật là định tội danh và quyết định hình phạt).

Đồng thời, chương 1 chỉ rõ những khía cạnh còn chưa thống nhất hoặc chưa được nghiên cứu thấu đáo dưới góc độ BLHS năm 2015 tại địa bàn TP.HCM. Trên cơ sở đó, tác giả xác lập cơ sở lý thuyết, 04 câu hỏi nghiên cứu, 04 giả thuyết nghiên cứu và hệ thống 04 vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp giải quyết.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận vững chắc về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

  • Khái niệm và đặc điểm: Trên cơ sở phân tích khái niệm hình thức và nội dung của tội phạm (Điều 8 BLHS 2015), thuật ngữ "lừa đảo" (dùng thủ đoạn gian dối làm cho người khác tin tưởng giao tài sản), "chiếm đoạt" (chuyển dịch bất hợp pháp tài sản của người khác thành của mình), "tài sản" (theo Điều 105 BLDS 2015), tác giả xây dựng định nghĩa khoa học: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại quan hệ sở hữu, do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp luật định.
  • Bốn yếu tố cấu thành tội phạm:
    • Khách thể: Quan hệ sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
    • Mặt khách quan: Hành vi dùng thủ đoạn gian dối (đưa ra thông tin giả mạo trước khi nhận tài sản làm nạn nhân nhầm tưởng mà tự nguyện giao tài sản); hành vi chiếm đoạt; hậu quả thiệt hại vật chất từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc các điều kiện luật định.
    • Chủ thể: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định (từ đủ 16 tuổi trở lên theo Điều 12 BLHS).
    • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp; mục đích chiếm đoạt tài sản luôn xuất hiện trước hoặc tại thời điểm thực hiện thủ đoạn gian dối.
  • Phân biệt tội danh: Luận án làm rõ ranh giới pháp lý giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội danh có yếu tố tương đồng hoặc đan xen:
    • Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS): Ý thức chiếm đoạt phát sinh sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp ngay từ đầu.
    • Tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS): Hành vi công khai, nhanh chóng giật lấy tài sản, phân biệt với việc dùng thủ đoạn gian dối để nạn nhân tự giao tài sản.
    • Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS): Phân biệt căn cứ vào phương thức tác động trực tiếp vào thiết bị công nghệ hay chỉ dùng mạng xã hội, viễn thông như một công cụ tiếp cận, đưa thông tin lừa dối người bị hại.
    • Hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 341 BLHS): Xác định mối quan hệ giữa hành vi làm giả và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong chuỗi hành vi phạm tội.
  • Lý luận về điều chỉnh pháp luật hình sự: Phân tích bản chất của việc quy định và áp dụng pháp luật hình sự, các yếu tố tác động như điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa pháp lý, ý thức pháp luật và năng lực của chủ thể tiến hành tố tụng.

Chương 3: Quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 phân tích thực trạng pháp luật thực định và đánh giá bức tranh thực tiễn xét xử tại địa bàn TP.HCM:

  • Pháp luật thực định và so sánh quốc tế: Điểm lại quá trình phát triển của quy định từ BLHS 1985, BLHS 1999 đến Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Đối chiếu với pháp luật hình sự của 09 quốc gia (Nga, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ, Thụy Sĩ, Ba Lan, Trung Quốc) để rút ra các giá trị tham khảo về kỹ thuật lập pháp, phân hóa trách nhiệm hình sự và quy định hình phạt.
  • Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự tại TP.HCM (2013–2023):
Chỉ tiêu thống kê (2013 – 2023) Số lượng / Tỷ lệ thực tế
Tổng số vụ án xét xử về tội LĐCĐTS tại TP.HCM 1.763 vụ
Tổng số bị cáo xét xử về tội LĐCĐTS tại TP.HCM 2.303 bị cáo
Trung bình mỗi năm tại TP.HCM 176,3 vụ / 230,3 bị cáo
Tỷ lệ vụ án LĐCĐTS trên tổng số vụ án hình sự tại TP.HCM 3,7%
Tỷ lệ bị cáo LĐCĐTS trên tổng số bị cáo hình sự tại TP.HCM 3,0%
Tỷ lệ vụ án LĐCĐTS tại TP.HCM so với cả nước 8,2%
Tỷ lệ bị cáo LĐCĐTS tại TP.HCM so với cả nước 7,9%
  • Các hạn chế, thiếu sót điển hình được chỉ ra qua các vụ án cụ thể:
    • Định tội danh sai do nhầm lẫn giữa hành vi lừa đảo với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc cướp giật tài sản;
    • Định tội danh không chính xác đối với chuỗi hành vi lừa đảo đan xen với hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức;
    • Bỏ lọt người phạm tội trong các vụ án có đồng phạm; bỏ lọt tội phạm;
    • Hiện tượng hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội;
    • Sai lầm trong quyết định hình phạt: Đánh giá không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; vận dụng không đúng quy định về án treo;
    • Áp dụng sai tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung.
  • Nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót:
    • Nguyên nhân pháp luật: Một số tình tiết định tội, định khung mới trong BLHS 2015 chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất; một số văn bản cũ đã hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp nhưng chưa được thay thế; chưa có án lệ chuyên biệt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
    • Nguyên nhân chủ thể: Trình độ, năng lực, kinh nghiệm của một bộ phận Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và người tiến hành tố tụng chưa đồng đều; công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu chưa được tiến hành thường xuyên.

Chương 4: Yêu cầu và các giải pháp bảo đảm áp dụng có hiệu quả pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn:

  • Yêu cầu bảo đảm: Bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong tư pháp hình sự; đáp ứng chủ trương cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thích ứng với hội nhập quốc tế và phòng chống tội phạm phi truyền thống, tội phạm sử dụng công nghệ cao.
  • Các giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự: Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015 nhằm khắc phục các bất cập, mâu thuẫn trong kỹ thuật lập pháp.
    2. Tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật: TAND Tối cao phối hợp với các cơ quan hữu quan kịp thời ban hành Nghị quyết hướng dẫn giải thích cụ thể các tình tiết định khung mới (như "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", "phương tiện kiếm sống chính"...).
    3. Xây dựng và phát triển án lệ: Tuyển chọn các bản án xét xử chuẩn mực về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản để ban hành án lệ, tạo chuẩn mực thống nhất cho việc định tội và lượng hình.
    4. Củng cố tổ chức và nâng cao năng lực chủ thể áp dụng pháp luật: Nâng cao chất lượng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên; nâng cao năng lực tham gia tố tụng của các chủ thể khác.
    5. Bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật: Đầu tư trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và giám định tài sản.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn do tác giả tự nêu

  1. Về lý luận: Góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện cơ sở lý luận về việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác về tội danh này trên cơ sở kết hợp Điều 8, Điều 76 và Điều 174 BLHS năm 2015.
  2. Về quy định pháp luật và so sánh: Phân tích toàn diện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và đối chiếu với pháp luật hình sự của 09 quốc gia phát triển, chỉ ra các giá trị tiến bộ có thể tiếp thu.
  3. Về kỹ năng nghiệp vụ: Phân định rõ ràng ranh giới pháp lý giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội danh xâm phạm sở hữu và tội danh khác có dấu hiệu tương đồng trong BLHS.
  4. Về thực tiễn áp dụng: Làm rõ bức tranh thực tế áp dụng quy định pháp luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại TAND hai cấp TP. Hồ Chí Minh trong suốt 11 năm (2013–2023), xác định các dạng sai sót cụ thể trong định tội danh và quyết định hình phạt, phân tích căn nguyên của các sai sót đó.
  5. Về giải pháp: Xác lập hệ thống yêu cầu khoa học và đề xuất các giải pháp khả thi, đồng bộ từ lập pháp, giải thích pháp luật, xây dựng án lệ đến nâng cao năng lực bộ máy tư pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng đắn, hiệu quả pháp luật hình sự.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các tình tiết định tội, định khung hình phạt định tính mới được bổ sung trong BLHS năm 2015;
  • Rà soát, xây dựng án lệ đối với các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất phức tạp, hành vi đan xen;
  • Nâng cao tính chuyên trách, tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ định kỳ cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xử lý án xâm phạm sở hữu;
  • Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác xét xử nhằm ngăn chặn hiện tượng hình sự hóa quan hệ dân sự hoặc bỏ lọt tội phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật tại giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp (chủ thể là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân) với hai nội dung chính là định tội danh và quyết định hình phạt. Do đó, các khía cạnh áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra của Cơ quan điều tra, giai đoạn truy tố của Viện kiểm sát hay giai đoạn thi hành án chưa được đi sâu phân tích toàn diện. Phạm vi số liệu thực tiễn giới hạn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2013–2023.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về phương thức, thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, không gian mạng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên phạm vi toàn quốc.

Giá trị tham khảo

  • Đối với người làm công tác thực tiễn (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư): Cung cấp các tiêu chí rõ ràng để định tội danh chính xác, phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội phạm có dấu hiệu đan xen (lạm dụng tín nhiệm, cướp giật, tội phạm công nghệ theo Điều 290 BLHS, làm giả tài liệu); tránh các sai sót điển hình về áp dụng án treo, tăng nặng định khung.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên luật học: Là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên sâu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu môn Luật Hình sự (Phần các tội phạm) và Tội phạm học; cung cấp chuỗi số liệu thực tế 11 năm và phương pháp so sánh luật hình sự quốc tế.
  • Đối với cơ quan lập pháp và các cơ quan tư pháp trung ương (TAND Tối cao, VKSND Tối cao): Cung cấp luận cứ thực tiễn và khoa học phục vụ công tác rà soát, hoàn thiện quy định của BLHS, xây dựng Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và phát triển án lệ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như thế nào trên cơ sở BLHS năm 2015?

Luận án kết hợp quy định tại Điều 8 (khái niệm tội phạm), Điều 76 (phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại không bao gồm tội này) và Điều 174 BLHS năm 2015 để đưa ra định nghĩa: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại quan hệ sở hữu, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp luật định.

2. Số liệu xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại TP.HCM trong giai đoạn 2013–2023 có những đặc điểm nổi bật nào?

Trong 11 năm (2013–2023), TAND hai cấp TP.HCM đã xét xử 1.763 vụ án với 2.303 bị cáo (bình quân 176,3 vụ và 230,3 bị cáo/năm). Loại tội phạm này chiếm 3,7% tổng số vụ án và 3,0% tổng số bị cáo hình sự tại TP.HCM; đồng thời chiếm tỷ trọng đáng kể so với cả nước (8,2% số vụ án và 7,9% số bị cáo phạm tội này trên toàn quốc).

3. Những hạn chế, sai sót chủ yếu của Tòa án tại TP.HCM trong xét xử tội danh này được luận án chỉ ra là gì?

Các sai sót bao gồm: Định tội danh sai do nhầm lẫn với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc cướp giật tài sản; không xử lý chính xác chuỗi hành vi lừa đảo kết hợp làm giả con dấu, tài liệu; bỏ lọt tội phạm hoặc đồng phạm; hình sự hóa quan hệ dân sự; áp dụng không đúng quy định về án treo; áp dụng sai tình tiết định khung tăng nặng mới và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung.

4. Vì sao việc áp dụng các tình tiết định khung mới của BLHS năm 2015 lại gặp nhiều vướng mắc trong thực tế?

Do các tình tiết tăng nặng định khung mang tính định tính mới được bổ sung như "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", "tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ", "lợi dụng thiên tai, dịch bệnh"... chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn giải thích cụ thể của cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến nhận thức và áp dụng tùy nghi, không thống nhất giữa các cấp Tòa án.

5. Luận án đề xuất giải pháp nào để khắc phục tình trạng thiếu thống nhất trong xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: Hoàn thiện quy định tại Điều 174 BLHS; TAND Tối cao khẩn trương ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các tình tiết định tính mới; xây dựng và công bố các án lệ điển hình về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Thị Hồng Thắm là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống, giải quyết thấu đáo cả phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên cơ sở BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Thông qua việc khảo sát, phân tích chuỗi dữ liệu thực tế 11 năm (2013–2023) tại Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh, luận án đã nhận diện chính xác các tồn tại, sai sót điển hình trong định tội danh và quyết định hình phạt. Hệ thống các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật, ban hành hướng dẫn áp dụng và phát triển án lệ được đề xuất có giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần bảo đảm pháp chế và nâng cao hiệu quả tư pháp hình sự.