Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE TOI TRỘM CAP TÀI SAN 1. Khai niệm tội trộm cắp tài sản Trong lịch sử lập pháp Việt nam và các nước trên thế giới tồn tại hai khuynh hướng khác nhau khi quy định về tội trộm cắp tài sản trong văn bản pháp luật hình sự. Khuynh hướng thứ nhất không đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tội trộm cắp tài sản mà mặc nhiên thừa nhận nó. Khuynh hướng thứ hai có quy phạm định nghĩa về khái niệm tội trộm cắp tài sản'.
Ở mỗi giai đoạn lập pháp hình sự, Nhà nước ta đều ban hành các quy định về tội trộm cắp tài sản và đường lối xử lý người phạm tội, song các văn bản pháp luật của Nhà nước ta sau Cách mạng tháng 8 đều không đưa ra khái niệm về tội này, nghĩa là thể hiện theo khuynh hướng thứ nhất, không có quy phạm định nghĩa của khái niệm tội trộm cắp tài sản, chỉ quy định tội danh một cách đơn giản được thê hiện trong Điều 132, Điều 155 BLHS năm 1985 và Điều 13§ BLHS năm 1999, Nhu vậy, cân tìm hiéu thé nao là tội trộm cap tài sản. Qua nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước trên thế giới cho thấy, hầu hết các nước như Liên bang Nga, Malaixia, Cộng hòa liên bang Duc. đều theo khuynh hướng thứ hai. Cụ thé: Theo Điều 158 BLHS Liên Bang Nga năm 1996 (có hiệu lực từ 01/07/1997) đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm trộm cắp: “Trém cap tài sản nghĩa là bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác thì bj.
Qua khái niệm này cho thấy hành vi phạm tội trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản, sự chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách bí mật và tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản của người khác. Ngoài ra, BLHS Liên bang Nga còn giải thích thêm “7ồi ôm cấp tài sản theo Diéu luật này được hiểu là hành vi lấy di và (hoặc) sử dung trái ' Hoàng Văn Hung (2007), Tôi trộm cắp tài sản và dau tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. ? Nguyễn Minh Đạo, Phùng Văn Ngân, Vũ Thị Hương Giang, Nguyễn Đức Trung (dịch, 2011), Bộ Luật hình sự Liên bang Nga, Sách được tài trở bởi Sida, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. pháp luật không bôi hoàn tài sản của người khác nhằm mục đích trục lợi của người phạm tội hoặc những người khác gây ra thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc chủ nhân khác tài sản này ”.
Như vậy, BLHS Liên bang Nga còn làm rõ thêm mục đích của người phạm tội là trục lợi. Theo Điều 378 BLHS của Malaixia: “Người nào nhằm mục dich chiếm đoạt động sản của người khác mà lấy di tai san do thi bị xu là tội trộm cap 3 Tương tự như BLHS Malaixia, BLHS Cộng hoa Liên bang Duc cũng quy định: “Người nào lấy đi một đô vật không cô định không phải của mình từ một người khác với chủ định chiếm đoạt trái pháp luật đồ vật cho mình hoặc cho một người thứ ba thì bị xứ phạt với hình phạt. ” Với cách đưa ra khái niệm như trên cho thấy, BLHS hai quốc gia này cũng xác định trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt, tài sản bị chiếm đoạt cũng là tài sản của người khác và đối tượng tác động của loại tội này là động sản (những tài sản có thé di dời từ nơi này đên nơi khác). Nhu vậy, hau hêt các nước trên thê giới đêu hiêu trộm cap tài sản là hành vi lây đi tài sản của người khác nhăm mục đích chiêm đoạt, trục lợi một cách bí mật.
Nhà nước ta tuy không định nghĩa tội trộm cắp tài sản trong luật nhưng cũng có cách hiểu tương tự. Theo từ điển pháp luật hình sự, định nghĩa trộm cap tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý.” Cách định nghĩa này cũng tương tự với định nghĩa được đưa ra trong GIáo trình trường Dai học Luật Hà Nội: “76i rộm cap tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ”." Như vậy, tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản, tính chất của hành vi là lén lút, bí mật và đối tượng là tài sản đang có người quản lý. 3 Bộ Tư pháp (1998), Số chuyên đề về luật hình sự của một số nước trên thế giới, Tạp chí din chủ và pháp luật 1998, tr. “N guyén Ngọc Hòa, Lê Thi Sơn và Trần Hữu Tráng dịch (2011), Bộ Luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, Sách được tài trở bởi Sida, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
> Nguyễn Ngoc Hòa và Lê Thị Sơn (2006), Từ điển Pháp luật hình sự, NXB Tư pháp. (tr283) 5 Trường Dai học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Tập 2, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.32 Xét về phương diện lý luận, tội “Tội trộm cắp tài sản” là một loại tội phạm có dấu hiệu hành vi khách quan khá đơn giản: “7rôm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác ”.” Tuy nhiên, các khái niệm nêu trên vẫn chưa thé hiện rõ được một số dau hiệu pháp lý khác của tội trộm cắp tài sản như dấu hiệu về lỗi, dấu hiệu về độ tuổi va năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể tội phạm. Theo Tiến sĩ khoa học — Giáo sư Lê Cảm cho rằng dé đưa ra được khái niệm tội trộm cắp tài sản, cần khẳng định tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, tức là thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm của nó là: a) bình điện khách quan - tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý — tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chủ quan — tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm ` ` 3 As : z oA ` tA ^ z r4K:8 hình sự và du tuôi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cach có lỗi. Trong nghiên cứu của mình, Tiến sĩ Hoàng Văn Hùng đã đưa ra định nghĩa về tội trộm cắp tài sản “76i ộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của người khác với muc đích chiếm đoạt, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cô ý, xâm phạm các quyên sở hữu được Nhà nước bảo vệ bằng pháp Ag) 9 luật `.
Với cách định nghĩa trên, có thé thấy ngoài những đặc điểm về hình thức chiếm đoạt là lén lút, hành vi phạm tội là hành vi chuyên dịch bất hợp pháp tài sản của người khác làm tài sản của mình, khái niệm này đã làm rõ thêm các đặc điểm về lỗi của tội trộm cắp tài sản là lỗi có ý, người phạm tội phải đủ tuổi chịu TNHS và có năng lực TNHS (những hành vi lay tài sản của người khác khi chưa đủ tuổi chịu TNHS hoặc ở tình trạng không có năng lực TNHS thì không phải là tội phạm). 7 Đinh Văn Qué (2002), Bình luận khoa học Bộ luật hình sư, Phan các tội phạm Tập 2, Nxb TP.Hồ Chi Minh,tr. Š Lê Cảm (2001), Giáo trình Luật hình sự (phân chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. ? Hoàng Van Hùng, tlđd chú thích 1, tr.
10 Từ các phân tích trên, tác giả định nghĩa vê Tội trộm cap tai sản như sau: “7ô¡ rộm cap tài san là hành vi lén lút, bí mát chiêm đoạt tài san cua người khác, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đu tuôi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lôi cô ý ”. Lich sử lập pháp về tội trộm cắp tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam từ 1945 đến nay Dé giúp chúng ta có cái nhìn khái quát và toàn diện về quan niệm của nhà lập pháp trong chế độ xã hội khác nhau về tội phạm và hình phạt, từ đó nhận thức sâu sắc và đầy đủ hơn về bản chất, dau hiệu pháp lý đặc thù của tội phạm và chính sách hình sự của nhà nước đối với người phạm tội trộm cắp tài sản sau đây tác giả lần lượt nghiên cứu các qui định pháp luật hình sự về tội trộm cap tai sản trong lich sử. Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 Cách mạng tháng 8 thành công, nhận thức được tầm quan trọng của việc ồn định kỷ cương, pháp luật và đối phó với tình hình thực tế nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng và lần lượt ban hành các văn bản pháp luật hình sự quy định việc trừng tri tội trộm cắp tài sản như: Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/02/1946 trừng trị tội phá hoại công sản; Sắc lệnh số 73-SL ngày 17/08/1947 về các tội vi cảnh; Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/03/1949 về tội trộm cắp tài sản quốc phòng trong thời chiến; Thông tư 26-BK ngày 09/05/1949 của Bộ tư pháp hướng dẫn đường lỗi xử lý hành vi bắt được của rơi mà giữ lấy không trả hoặc không nộp cho nhà chức trách Thông tư số 11-BK ngày 14/12/1949 của Bộ Nội vu, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp ấn định phương pháp đối phó với các vụ trộm cắp tại nơi có chiến SỰ; 11 Nghị định 32-ND ngày 06/04/1952 của Bộ Tư pháp qui định đường lối xét xử của tội trộm cắp, lừa đảo biên thủ tài sản. Thông tư 442-TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng tổng kết án lệ và hướng dẫn công tác xét xử các tội phạm thông thường Nghiên cứu các văn bản này cho thấy: Quy định về tội trộm cắp tài sản ở giai đoạn nay đã tạo cơ sở kip thời cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản, góp phần vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tuy nhiên, các văn bản qui phạm pháp luật thời kì này vẫn chưa phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài sản. Thông tư 16-BK quy định: “Bat được của cải gi của người ta mà giữ làm của mình bị coi là ăn Cấp. có thể bị phat tù từ 1 năm đến 05 năm, lại còn bị phạt tiền nữa `. Tội trộm cắp tài sản ở giai đoạn này được thê hiện như một quy định đơn giản với chế tài cụ thé.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, đường lỗi xét xử giữa các địa phương không được thống nhất, rõ ràng và có nơi không được đúng.