CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CÁC TINH TIẾT GIAM NHE TRÁCH NHIEM HÌNH SỰ THUỘC NHÂN THÂN NGƯỜI PHAM TOI 1. Cơ sở lý luận về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc nhân thân người phạm tội 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về nhân thân người phạm tội 1. Khái niệm nhân thân người phạm toi Khái niệm về nhân thân người phạm tội liên quan mật thiết với khái niệm chung của xã hội hoc Mác — Lê Nin về nhân thân con người.
Theo đó, nhân thân có thê hiểu đó là bản chat xã hội của con người được thé hiện thông qua vị trí của con người trong các quan hệ xã hội. Đối với với quan điểm của chủ nghĩa Mác — Lê Nin, quan điểm về nhân thân đối với các nhà tư sản là nhân thân tách rời với quá trình phát triển xã hội. Theo đó, nhân thân phải là cá nhân có đặc điểm riêng giữa các cá thể trong xã hội, có khả năng điều khiển được chính con người mình và điều khiển được người khác, có khả năng quyết định tiến trình phát triển của lịch sử. Khi nhắc đến Nhân thân chủ yếu nói đến con người với tư cách là thành viên trong các mối quan hệ xã hội.
Bởi vậy, không một cá nhân nào lại có thể mang nhân thân của người khác. Nhân thân của con người là duy nhất và tương ứng với một cá nhân. Nhân thân mang bản chất xã hội sâu sắc, một số mang lại sự thúc đây xã hội tích cực, một số lại cản trở. Chính bởi tính duy nhất của nhân thân, tức một nhân thân tương ứng với một cá nhân nên nhân thân mang đặc điểm, dấu hiệu thê hiện bản chất con người khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội.
Nhân thân được bắt đầu và kết thúc bằng các sự kiện sinh-lão-bệnh-tử, được thay đổi bằng các sự kiện trong cuộc sống như kết hôn, đẻ con, hoặc có quyết định của cơ quan nhà nước có thâm quyên. Nhân thân có thé được hiểu đơn giản là quyền dân sự của con người. Đặc điểm của nhân thân có thể là tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, công lao đóng góp cho xã hội, tính cách, quan điểm, trình độ văn hóa,. Nói một cách dễ hiểu hơn, nhân thân là tất cả những điểm làm nồi bật nét riêng trong tính chất của mỗi người.
Nhân thân người phạm tội được hiểu là một khái niệm có nội dung khái quát, mà những nội dung đó làm nên nét riêng về bản chất của mỗi người, phản ánh các dấu hiệu, đặc tính cho con người. Như đã đề cập đến phía trên, nhân thân người phạm tội có thé tác động tích cực dé thúc đây sự phát triển xã hội, cũng có thé can trở. Và tội phạm là một trong những nhân thân làm cản trở sự phát triển xã hội. Nhân thân người phạm tội có thê kế đến một số dấu hiệu như: độ tuổi, nhận thức, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình,.
Soi chiếu vào các quy định pháp luật hình sự, nhân thân người phạm tội bao gồm các dấu hiệu: 1- Mang tất ca dấu hiệu của tội phạm thông thường được quy định trong bộ luật hình sự (độ tuổi va năng lực trách nhiệm hình sự); 2- Mang dấu hiệu chủ thé đặc biệt (vi dụ như nghề nghiệp, giới tính, chức vu,.); 3- Gắn liền với tính chất phi tài sản, không xác định được băng tiền và không thể trao đổi ngang giá. Nhân thân gan liền với ban thân mỗi cá nhân và không thê chuyên giao. Nhân thân không chỉ có ý nghĩa với các quan hệ dân sự mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Sở di như vậy bởi nhân thân người phạm tội là căn cứ dé xác định các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Qua các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm Nhân thân người phạm tội như sau: Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu, các đặc tính thể hiện bản chất xã hội của con người khi vi phạm pháp luật hình sự, mà trong sự kết hợp với các diéu kiện bên ngoài đã ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi phạm tội của người đó. Đặc điểm vàý nghĩa của nhân thân người phạm tội * Đặc điểm của nhân thân người phạm tội - Mang dấu hiệu cụ thể hóa bản chất con người. Cung như tính đặc trưng của khái niệm nhân thân, nhân thân người phạm tội cũng thé hiện đặc trưng bản chất của người phạm tội. Đặt nhân thân người phạm tội trong những tình huống và hoàn cảnh cụ thé là căn cứ lý giải cho xử sự của người phạm tội đó.
- Nhân thân người phạm tội được hình thành trong quá trình sinh sống, công tắc, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội xung quanh. Việc môi trường tốt hay xấu ảnh hưởng đến hành vi và nhận thức của chủ thê cũng là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng gây ra những tác động tới người phạm tội. Do vậy, nếu xem xét mức độ phạm tội, trong trường hợp người phạm tội được sinh ra và lớn lên trong môi trường nhiều tệ nạn, không được giáo duc tốt thi sẽ được xem xét trên một khía cạnh pháp luật khác so với chủ thể phạm tội được sinh ra trong môi trường giáo dục tốt nhưng vẫn phạm tội, biết được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện Trình độ văn hóa hay còn được hiểu là trình độ học tập của người phạm tội. Đây là một trong những yếu tô quan trọng đầu tiên khi xem xét về hành vi phạm tội đối với người phạm tội.
Bởi lẽ, trong trường hợp trình độ văn hóa thấp kém, việc hiểu biết và tuân thủ pháp luật thường sẽ bị hạn chế dẫn đến việc người phạm tội dễ dàng thực hiện hành vi vi phạm mà không lường trước được hậu quả sẽ xảy ra nghiêm trọng. Về lối sống của người phạm tội cũng là một trong những yếu tố quan trọng của người phạm tội. Việc người phạm tội bị ảnh hưởng từ môi trường xấu dẫn đến lỗi sông bê tha, không quy chuẩn cũng khiến cho hành vi của người phạm tội bị ảnh hưởng theo lối sống và hành vi đó. Chính vì lý do như vậy, nên một bộ phận giới trẻ do không có sự giáo dục tận tình, quan tâm sát sao từ phía thầy cô và nhà trường dẫn đến việc có những tội phạm mới ở độ tudi học sinh đã vi phạm quy định pháp luật nghiêm trọng dẫn đến những hậu quả khôn lường và những kết cục đau buồn.
- Đặc điểm nhân thân con người bao gồm các đặc điểm về mặt sinh học và đặc điểm về mặt xã hội và hoàn toàn có thé cải biến, thay đôi được. Không bởi tự nhiên mà pháp luật nước ta lại chia độ tudi của con người thành các giai đoạn thiếu nhi, thiếu niên và người đủ năng lực hành vi dân sự, đủ năng lực nhận thức. Bởi ở mỗi độ tuôi thì khả năng nhận thức và hiểu biết là khác nhau hoàn toàn. Việc kiến thức được học và được tiếp cận cũng sẽ bị hạn chế bởi độ tuôi.
Chính vì vậy so sánh giữa việc người phạm tội là người chưa đủ khả năng nhận thức va năng lực hành vi sẽ được đánh giá theo khía cạnh pháp luật khác so với chủ thé đã đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực nhận thức. Đồng thời, môi trường sống xã hội khác nhau cũng dẫn đến nhận thức pháp luật và nhân thân người phạm tội là khác nhau. Tuy nhiên, dù có sự khác nhau về mặt sinh học hay đặc điểm xã hội thì nhân thân người phạm tội hoàn toàn có thé thay đổi, cải biến phụ thuộc vào nhận thức pháp luật của người phạm tội. * Nhân thân người phạm tội có ý nghĩa đối với khoa học hình sự như sau: Nghiên cứu về nhân thân người phạm tội từ trước tới nay không phải một vấn đề quá mới nhưng với ý nghĩa quan trọng của nó, nhiều nhà nghiên cứu vẫn tập trung nghiên cứu và hoàn thiện.
Tuy cùng nghiên cứu về nhân thân người phạm tội nhưng mỗi nganh khoa học lại có mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu riêng. Nhân thân người phạm tội nghiên cứu về khía cạnh hình sự thì có ý nghĩa: 10 - Là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phạm tội nguy hiểm ít hay nhiều,. Ví dụ: Phạm tội do lạc hậu sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ do đây là yếu tố khách quan của hoàn cảnh dẫn đến nhận thức lệch lạc, hành vi phạm tội có thé sẽ không xảy ra nếu được trang bị tốt hơn về hiéu biết. Việc nghiên cứu nhân thân xuất phát từ nhu cầu thực tiễn khi điều tra và xét xử cần xác định mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, yếu tố tâm lý của người phạm tội,.
để xác định trách nhiệm hình sự và định khung hình phạt. - Thé hiện kha năng cải tạo giáo dục của người phạm tội Tội phạm học nghiên cứu người phạm tội hay nhân thân người phạm tội là vì mục đích xác định nguyên nhân của tội phạm, bao gồm không chỉ các nguyên nhân từ phía người phạm tội mà cả các nguyên nhân từ phía xã hội. Nhân thân người phạm tội là một trong những yếu tố tác động đến tính chất nguy hiểm ít hay nhiều của hành vi phạm tội, thể hiện sự tác động ngược trở lại của xã hội và môi trường sống lên người phạm tội. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội trong tội phạm học có thể xác định được những đặc điểm nhân thân nào của người phạm tội có tác động làm tăng nguy cơ phạm tội ở người phạm tội hay còn gọi là đặc điểm tiêu cực hay rủi ro phạm tội.
Các đặc điểm này có thể là những đặc điểm từ chính người phạm tội, như các đặc điểm sinh học hay các đặc điểm tâm lý tiêu cực thuộc nhân cách hoặc là các đặc điểm xã hội là kết quả hoặc phản ánh sự tác động của các yếu tố tiêu cực từ môi trường xã hội đối với người phạm tội. Qua đó làm cơ sở để các cơ quan chức năng đánh giá khả năng cải tạo của người phạm tội, từ áp dụng các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ phù hợp.