Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp và quyền năng xét xử theo quy định của Hiến pháp năm 2013. Nhằm bảo đảm các phán quyết của Tòa án đạt tính chính xác, khách quan, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tránh oan sai và không bỏ lọt tội phạm, nguyên tắc "Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm" đã được ghi nhận tại khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Với vị trí là cấp xét xử thứ hai, xét xử phúc thẩm thực hiện hai nhiệm vụ song song: xét xử lại vụ án về mặt nội dung đối với các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; đồng thời thực hiện nhiệm vụ giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới. Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã có nhiều bước tiến so với BLTTHS năm 2003, các quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm (BAST) của Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm vẫn còn một số điểm chung chung, bất cập. Trên thực tế đã phát sinh những trường hợp HĐXX phúc thẩm sửa bản án theo những hình thức chưa được điều luật quy định cụ thể (như miễn, giảm án phí, sửa điều luật viện dẫn áp dụng...). Cùng với cam kết hoàn thành xây dựng Tòa án điện tử đến năm 2025 theo các nghị quyết của Hội đồng Chánh án khu vực ASEAN và châu Á - Thái Bình Dương, việc rà soát lý luận và thực tiễn để hoàn thiện chế định này là yêu cầu cấp thiết.
Tác giả xác định mục đích nghiên cứu là đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền sửa BAST của HĐXX phúc thẩm và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế. Để đạt mục đích này, khóa luận triển khai bốn nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền sửa BAST của HĐXX phúc thẩm (khái niệm, đặc điểm, cơ sở lý luận - pháp lý và ý nghĩa).
- Phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS năm 2015 về quyền sửa BAST của HĐXX phúc thẩm.
- Khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2015 về quyền sửa BAST trong các trường hợp áp dụng điều, khoản về tội nhẹ hơn hoặc nặng hơn, và các trường hợp sửa bản án chưa được luật quy định rõ.
- Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định trong BLTTHS năm 2015 cùng giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế.
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền sửa BAST của HĐXX phúc thẩm, thực tiễn áp dụng và các quan điểm pháp lý liên quan.
- Phạm vi nghiên cứu: Các quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam (bao gồm cả các trường hợp sửa án khi luật chưa có quy định cụ thể); phạm vi không gian trên lãnh thổ Việt Nam; dữ liệu khảo sát thực tiễn tập trung trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023.
Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và pháp lý
Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm và cơ sở khoa học dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và giáo trình chuẩn mực của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội:
- Khái niệm công cụ:
- Bản án sơ thẩm: Văn bản tố tụng do Tòa án có thẩm quyền ban hành tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, thể hiện kết quả xét xử đối với bị cáo, có giá trị bắt buộc với các chủ thể liên quan nhưng chưa có hiệu lực thi hành ngay và có thể bị kháng cáo, kháng nghị.
- Xét xử phúc thẩm: Quy định tại khoản 1 Điều 330 BLTTHS năm 2015, là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.
- Hội đồng xét xử phúc thẩm: Gồm 03 Thẩm phán chuyên trách theo khoản 2 Điều 254 BLTTHS năm 2015 (không có Hội thẩm nhân dân như cấp sơ thẩm hay BLTTHS năm 2003 trước đây).
- Quyền sửa bản án sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm: Quyền năng do luật tố tụng hình sự trao cho HĐXX phúc thẩm trong việc xem xét, quyết định làm thay đổi một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị hoặc trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị mà xét thấy cần thiết sửa theo hướng có lợi.
- Cơ sở lý luận: Dựa trên tính chất của xét xử phúc thẩm (xét xử lại về nội dung và kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ) và hai nhiệm vụ trọng tâm của Tòa án cấp phúc thẩm.
- Cơ sở pháp lý nền tảng:
- Các nguyên tắc tố tụng cơ bản: Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (Điều 103 Hiến pháp 2013, Điều 27 BLTTHS 2015, Điều 14 Công ước ICCPR 1966); Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 15 BLTTHS 2015); Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 31 Hiến pháp 2013, Điều 13 BLTTHS 2015).
- Phân định các chức năng cơ bản trong tố tụng (buộc tội, bào chữa, xét xử) và phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
- Văn bản áp dụng: Hiến pháp năm 2013; BLTTHS năm 2015 (sửa đổi 2021); Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi 2017); Luật Tổ chức TAND năm 2014; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (sửa đổi bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP) của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Thông tư liên tịch số 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT ngày 08/12/1988.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước. Các phương pháp cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ bản chất pháp lý, các thuộc tính của quyền sửa BAST và quy định tại Điều 357 BLTTHS năm 2015.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định giữa BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 1988 để thấy rõ sự chuyển biến kỹ thuật lập pháp.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống (án văn): Trích xuất, phân tích các bản án, quyết định phúc thẩm thực tế để đối chiếu giữa quy định và thi hành.
- Phương pháp thống kê số liệu: Thu thập, xử lý số liệu xét xử từ các báo cáo công tác của ngành Tòa án, điển hình là số liệu các vụ án bị sửa do lỗi chủ quan tại TAND TP. Cam Ranh giai đoạn 2019 – 2023.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền sửa bản án sơ thẩm của Hội đồng xét xử phúc thẩm
Chương này tập trung xác lập cơ sở khoa học cho quyền sửa BAST của HĐXX phúc thẩm thông qua việc phân tích khái niệm, đặc điểm, cơ sở hình thành và ý nghĩa pháp lý - thực tiễn.
Tác giả chỉ ra 06 đặc điểm pháp lý cơ bản của quyền sửa BAST:
- Điều kiện phát sinh: Phải có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp pháp theo thủ tục phúc thẩm đối với BAST chưa có hiệu lực pháp luật.
- Đối tượng tác động: BAST chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị (khác với đối tượng của thủ tục giám đốc thẩm/tái thẩm là bản án đã có hiệu lực pháp luật).
- Chủ thể thực hiện: Tập thể HĐXX phúc thẩm gồm 03 Thẩm phán theo quy định tại khoản 2 Điều 254 BLTTHS năm 2015.
- Phạm vi quyền hạn: Nằm trong phạm vi xét xử phúc thẩm, chủ yếu xem xét phần bị kháng cáo, kháng nghị nhưng có quyền mở rộng xem xét các phần không bị kháng cáo, kháng nghị nếu việc sửa đổi là có lợi cho bị cáo.
- Căn cứ thực hiện: Chỉ sửa đổi về mặt nội dung khi bản án sơ thẩm tuyên không đúng tính chất, mức độ, hậu quả hành vi, nhân thân hoặc có tình tiết mới; tuyệt đối không dùng quyền sửa BAST để khắc phục các vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng (thuộc trường hợp hủy án theo Điều 358).
- Hệ quả pháp lý: Làm thay đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định trong BAST, ưu tiên sửa theo hướng có lợi cho bị cáo và đặt ra các điều kiện khắt khe khi sửa theo hướng không có lợi.
Về mặt ý nghĩa, quyền sửa BAST đóng vai trò là cơ chế khắc phục nhanh chóng các sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm mà không cần phải hủy án để điều tra hay xét xử lại từ đầu, tiết kiệm chi phí tố tụng, bảo đảm quyền con người và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật cho các Tòa án cấp dưới.
Chương 2: Quyền sửa bản án sơ thẩm của Hội đồng xét xử phúc thẩm theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2 phân tích chuyên sâu các căn cứ và điều kiện thi hành quyền sửa BAST được quy định tại Điều 357 BLTTHS năm 2015.
1. Căn cứ và điều kiện sửa BAST:
- Hai căn cứ sửa bản án (khoản 1 Điều 357): (i) Có căn cứ xác định BAST đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo; (ii) Có tình tiết mới (tình tiết đã tồn tại ở cấp sơ thẩm nhưng chưa được xem xét hoặc tình tiết mới xuất hiện tại phiên tòa phúc thẩm).
- Ba điều kiện loại trừ:
- Không thuộc trường hợp hủy BAST để điều tra lại hoặc xét xử lại (Điều 358 BLTTHS).
- Không thuộc trường hợp hủy BAST và đình chỉ vụ án (Điều 359 BLTTHS).
- Không vi phạm giới hạn xét xử sơ thẩm (Điều 298 BLTTHS) và không vượt quá thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm.
2. Các trường hợp sửa BAST theo hướng có lợi cho bị cáo (khoản 1 Điều 357):
HĐXX phúc thẩm được quyền sửa theo hướng có lợi mà không bị giới hạn bởi hướng hay phạm vi kháng cáo, kháng nghị:
- Miễn TNHS hoặc miễn hình phạt: Áp dụng các căn cứ tại Điều 29 và Điều 59 BLHS năm 2015 (do chuyển biến tình hình, mắc bệnh hiểm nghèo, tự thú lập công chuộc tội, hòa giải thành công...).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung, không áp dụng biện pháp tư pháp.
- Áp dụng điều, khoản của BLHS về tội nhẹ hơn.
- Giảm hình phạt cho bị cáo.
- Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng: Tuân thủ quy định tại Điều 106 BLTTHS năm 2015 và Điều 47, 48 BLHS năm 2015.
- Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn: Chỉ áp dụng đối với các hình phạt chính (riêng hình phạt trục xuất là hình phạt đặc thù không so sánh thứ bậc nặng nhẹ).
- Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo: Tuân thủ Điều 65 BLHS năm 2015 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (mức phạt tù không quá 03 năm, nhân thân tốt, có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên trong đó có ít nhất 01 tình tiết tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng).
3. Các trường hợp sửa BAST theo hướng không có lợi cho bị cáo (khoản 2 Điều 357):
Bị ràng buộc bởi các điều kiện nghiêm ngặt:
- Về chủ thể và hướng yêu cầu: Bắt buộc phải có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của bị hại yêu cầu xử lý theo hướng tăng nặng/bất lợi cho bị cáo.
- Về phạm vi và thẩm quyền: Không được sửa vượt quá yêu cầu kháng cáo, kháng nghị (ví dụ: kháng cáo xin tăng hình phạt thì không được đổi sang tội danh nặng hơn; nếu áp dụng tội danh nặng hơn thuộc thẩm quyền cấp tỉnh thì phải hủy án sơ thẩm cấp huyện để xét xử lại).
- Về sự có mặt của bị cáo: Bị cáo bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa; nếu vắng mặt vì trở ngại khách quan/bất khả kháng thì không được sửa theo hướng tăng nặng (điểm c khoản 1 Điều 351 BLTTHS).
- Các trường hợp cụ thể: Tăng hình phạt; Áp dụng điều, khoản BLHS về tội nặng hơn; Áp dụng hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp; Tăng mức bồi thường thiệt hại; Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn; Không cho bị cáo hưởng án treo.
4. Sửa BAST cho bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị (khoản 3 Điều 357):
HĐXX phúc thẩm chỉ được áp dụng các quy định tại khoản 1 Điều 357 để sửa bản án theo hướng có lợi cho các bị cáo này, tuyệt đối không được sửa theo hướng làm xấu đi tình trạng pháp lý của họ.
| Tiêu chí đối chiếu |
Sửa bản án theo hướng có lợi (Khoản 1 Điều 357) |
Sửa bản án theo hướng không có lợi (Khoản 2 Điều 357) |
| Yêu cầu kháng cáo/kháng nghị |
Không phụ thuộc vào hướng kháng cáo, kháng nghị; VKS kháng nghị tăng nặng Tòa vẫn có thể sửa giảm nhẹ nếu có căn cứ. |
Bắt buộc phải có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của bị hại yêu cầu theo hướng không có lợi. |
| Phạm vi áp dụng đối tượng |
Áp dụng cho cả bị cáo có kháng cáo/bị kháng cáo và bị cáo không kháng cáo/không bị kháng cáo, kháng nghị. |
Chỉ áp dụng đối với bị cáo bị kháng nghị hoặc bị kháng cáo theo hướng tăng nặng. |
| Yêu cầu sự có mặt của bị cáo |
Có thể xét xử vắng mặt bị cáo. |
Bắt buộc bị cáo phải có mặt (trừ trường hợp vắng mặt cố ý không do trở ngại khách quan). |
| Giới hạn thẩm quyền |
Được áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn, tội nhẹ hơn, miễn TNHS, cho hưởng án treo. |
Không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị; không được vượt quá thẩm quyền của Tòa án cấp sơ thẩm. |
Chương 3: Thực tiễn thi hành và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền sửa bản án sơ thẩm của Hội đồng xét xử phúc thẩm
Chương này đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại các Tòa án nhân dân, làm rõ nguyên nhân dẫn đến các sai sót phải sửa bản án và đề xuất giải pháp.
- Thực tiễn áp dụng và tồn tại: Phân tích thực tế áp dụng việc sửa tội danh nhẹ hơn/nặng hơn, sửa quyết định xử lý vật chứng, và các trường hợp Tòa phúc thẩm sửa những nội dung mà BLTTHS năm 2015 chưa quy định chi tiết (như sửa án phí, sửa điều luật trích dẫn). Dẫn chứng thống kê từ Bảng 3.1 của khóa luận về số lượng vụ án hình sự tại TAND TP. Cam Ranh bị cấp phúc thẩm sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán giai đoạn 2019 – 2023.
- Nguyên nhân của hạn chế:
- Nguyên nhân lập pháp: Quy định tại Điều 357 còn mang tính định tính; khái niệm "tình tiết mới" chưa được giải thích chính thức; thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết về việc sửa tội danh nặng hơn khi vụ án vượt thẩm quyền sơ thẩm; thiếu quy định rõ ràng về sửa án phí hay biện pháp tư pháp.
- Nguyên nhân chủ quan: Trình độ, năng lực đánh giá chứng cứ và nhận thức pháp luật của một bộ phận Thẩm phán cấp sơ thẩm còn hạn chế, dẫn đến việc áp dụng sai điều khoản hoặc đánh giá không đúng tính chất vụ án.
- Kiến nghị hoàn thiện:
- Về lập pháp: Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 357 BLTTHS; Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết áp dụng Điều 357 (quy định cụ thể thế nào là tình tiết mới, hướng dẫn sửa bản án đối với các quan hệ liên quan như án phí, xử lý vật chứng).
- Về giải pháp thực thi: Tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, đẩy mạnh số hóa hoạt động xét xử và ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống Tòa án điện tử.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận: Phân định rõ bản chất, đặc điểm, ranh giới pháp lý của quyền sửa BAST trong mối tương quan với các quyền năng khác của HĐXX phúc thẩm (như giữ nguyên bản án, hủy bản án để điều tra lại/xét xử lại, đình chỉ vụ án).
- Phân tích chi tiết từng trường hợp áp dụng Điều 357 BLTTHS năm 2015: Làm rõ cấu trúc phân hóa giữa thẩm quyền sửa án có lợi (khoản 1) và thẩm quyền sửa án không có lợi (khoản 2), kết hợp đối chiếu với các quy định tương ứng của BLHS năm 2015 và các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP về án treo).
- Phát hiện những khoảng trống lập pháp thực tế: Chỉ ra các trường hợp phát sinh trong thực tiễn xét xử nhưng chưa được điều luật bao quát (như việc HĐXX phúc thẩm sửa đổi phần án phí, xử lý vật chứng độc lập, sửa lỗi viện dẫn điều luật sơ thẩm).
- Đề xuất giải pháp mang tính khả thi: Đưa ra các định hướng cụ thể để TAND tối cao ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất Điều 357 BLTTHS năm 2015, phục vụ tiến trình cải cách tư pháp và lộ trình xây dựng Tòa án điện tử đến năm 2025.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn dữ liệu thống kê án thực tế chủ yếu tập trung khảo sát điển hình theo giai đoạn 2019 – 2023 tại một số đơn vị Tòa án địa phương (như TAND TP. Cam Ranh), chưa bao quát toàn bộ hệ thống TAND cấp cao và TAND cấp tỉnh trên cả nước do điều kiện tiếp cận hồ sơ lưu trữ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế về thẩm quyền của cấp phúc thẩm trong mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng; khảo sát thực tiễn sửa án trên diện rộng tại các TAND cấp cao; nghiên cứu tác động của việc vận hành Tòa án điện tử và nộp chứng cứ trực tuyến đối với việc xuất hiện "tình tiết mới" tại phiên tòa phúc thẩm.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự.
- Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Mục phân tích điều kiện và giới hạn sửa BAST theo hướng không có lợi cho bị cáo tại khoản 2 Điều 357 BLTTHS năm 2015.
- Phần đối chiếu sự khác biệt giữa BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 về thành phần HĐXX phúc thẩm và thẩm quyền sửa án bổ sung (hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, không cho hưởng án treo).
- Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 357.
Câu hỏi thường gặp
1. Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm theo BLTTHS năm 2015 có điểm gì khác so với BLTTHS năm 2003?
Theo khoản 2 Điều 254 BLTTHS năm 2015, HĐXX phúc thẩm bắt buộc gồm 03 Thẩm phán chuyên trách (trừ thủ tục rút gọn). BLTTHS năm 2015 đã bãi bỏ hoàn toàn quy định tại Điều 244 BLTTHS năm 2003 trước đây vốn cho phép "trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm".
2. HĐXX phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo không kháng cáo không?
Có. Khoản 3 Điều 357 BLTTHS năm 2015 quy định trường hợp có căn cứ, HĐXX phúc thẩm có quyền sửa BAST theo các trường hợp có lợi quy định tại khoản 1 Điều 357 cho cả những bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.
3. Điều kiện bắt buộc để HĐXX phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo là gì?
Căn cứ khoản 2 Điều 357 BLTTHS năm 2015, Tòa án chỉ được sửa theo hướng không có lợi khi đáp ứng đủ các điều kiện: (i) Phải có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của bị hại yêu cầu theo hướng không có lợi; (ii) Không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị và thẩm quyền của cấp sơ thẩm; (iii) Bị cáo phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm (trừ trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng).
4. Tòa án cấp phúc thẩm xử lý như thế nào nếu thấy cần áp dụng tội danh nặng hơn nhưng tội danh đó vượt quá thẩm quyền của Tòa án cấp sơ thẩm đã xử trước đó?
Nếu việc áp dụng tội danh nặng hơn làm cho vụ án vượt quá thẩm quyền của Tòa án cấp sơ thẩm (ví dụ từ thẩm quyền cấp huyện lên cấp tỉnh), HĐXX phúc thẩm không được trực tiếp sửa bản án mà phải tuyên hủy bản án sơ thẩm để chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát làm lại cáo trạng và chuyển Tòa án có thẩm quyền xét xử lại sơ thẩm theo đúng quy định.
5. HĐXX phúc thẩm có được sửa các sai sót vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của cấp sơ thẩm không?
Không. Quyền sửa BAST chỉ áp dụng đối với nội dung bản án (đánh giá hành vi, hình phạt, áp dụng điều luật, bồi thường, xử lý vật chứng). Nếu BAST có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử sơ thẩm, HĐXX phúc thẩm bắt buộc phải tuyên hủy BAST để điều tra lại hoặc xét xử lại theo quy định tại Điều 358 BLTTHS năm 2015.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Võ Khánh Trân đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về quyền sửa bản án sơ thẩm của Hội đồng xét xử phúc thẩm theo quy định của BLTTHS năm 2015. Công trình phân tích sâu sắc các căn cứ, giới hạn áp dụng thẩm quyền sửa bản án theo hướng có lợi và không có lợi, đồng thời đối chiếu chặt chẽ với thực tiễn xét xử giai đoạn 2019 – 2023. Các kiến nghị lập pháp và giải pháp thực thi được đề xuất trong khóa luận mang giá trị khoa học và ứng dụng thiết thực, góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.