Chương 1: Một số vấn lý luận về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm. Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm. Chương 3: Thực tiễn thi hành quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm tại tỉnh Sơn La và một số giải pháp bảo đảm thực hiện. 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM ĐỐI VỚI BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM 1.
Khái niệm, đặc điểm thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm Việc nghiên cứu và đưa ra khái niệm về thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm có ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng và thực hiện các quy định về thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm. HĐXX phúc thẩm là chủ thể trực tiếp thực hiện việc xét xử tại Toà án cấp phúc thẩm. Vì vậy, khái niệm thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm cần được xác định dựa trên cơ sở khái niệm thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm. Trước hết, cần tìm hiểu thẩm quyền của Toà án là gì? “Thẩm quyền” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong khoa học pháp lý.
Theo Từ điển tiếng Việt thì thẩm quyền là “quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật” [58, tr. Theo Từ điển Luật học thì thẩm quyền là “tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định” [53, tr. Theo Giáo trình Luật tố tụng hành chính của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thẩm quyền là “quyền hạn theo pháp luật quy định, của cơ quan công quyền và công chức giữ chức vụ nhà nước nhất định” [50, tr. Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước do pháp luật quy định được hiểu là thẩm quyền của các cơ quan nhà nước đó” [51, tr.
Theo tác giả Nguyễn Văn Huyên thì “thẩm quyền là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một tổ chức hoặc một cán bộ, công chức nhà nước được thực hiện công việc trong các lĩnh vực và phạm vi nhất định” [22, tr. Mặc dù có nhiều cách đưa ra khái niệm khác nhau về thẩm quyền, tuy nhiên tựu chung đều có thể thấy khái niệm thẩm quyền phải gắn với một chủ thể nhất định và thẩm quyền phải do pháp luật quy định. Theo ý kiến của tác giả, thẩm quyền có thể được 8 hiểu là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một chủ thể nhất định được thực hiện công việc trong một lĩnh vực, phạm vi nhất định. Theo Từ điển Luật học, thẩm quyền của Toà án là “quyền xem xét và quyền giải quyết vụ án (bao gồm ra bản án và các quyết định khác) trong hoạt động xét xử của Toà án theo quy định của pháp luật” [54, tr.
Tác giả Nguyễn Đức Mai cho rằng, thẩm quyền của Toà án là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức được thể hiện ở quyền hạn xem xét và phạm vi xem xét của Toà án (thẩm quyền xét xử và phạm vi xét xử), còn thẩm quyền về nội dung thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của Toà án đối với những vấn đề đã được xem xét [26, tr. Theo tác giả Nguyễn Văn Huyên thì “thẩm quyền của Toà án là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho Toà án được xét xử những vụ án cụ thể và quyết định đối với các vấn đề về nội dung vụ án hoặc đảm bảo cho việc xét xử trong giới hạn hoặc phạm vi nhất định” [22, tr. Thẩm quyền của Toà án là một chế định lớn trong tố tụng hình sự bao gồm những nội dung chính sau: - Thẩm quyền về xét xử, để xác định Toà án nào có thẩm quyền xét xử một vụ án cụ thể, Toà án được xét xử những vụ án nào.
- Giới hạn và phạm vi xét xử, để xác định quyền của Toà án được xem xét những vấn đề gì khi xét xử. - Thẩm quyền quyết định, để xác định quyền hạn giải quyết những vấn đề về nội dung vụ án đã được xem xét, những vấn đề đảm bảo cho việc xét xử hoặc các vấn đề khác của tố tụng hình sự liên quan đến hoạt động xét xử. Thẩm quyền xét xử, giới hạn và phạm vi xét xử là cơ sở để xác định thẩm quyền quyết định của Toà án vì Toà án chỉ có thể quyết định những vấn đề trong phạm vi cho phép và đã được xem xét. Mặt khác, những vấn đề thuộc thẩm quyền xem xét của Toà án cũng chỉ có ý nghĩa khi được giải quyết bằng những quyết định của Hội đồng xét xử [22, tr.
Các cách nhìn nhận trên đều cho thấy điểm chung về thẩm quyền của Toà án được thừa nhận là tập hợp các quyền khác nhau của Toà án bao gồm: quyền xem 9 xét giải quyết vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép (thẩm quyền về hình thức) và quyền hạn trong việc ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó (thẩm quyền về nội dung). Quyền xem xét giải quyết vụ việc và quyền ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó là hai nội dung quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành thẩm quyền của Toà án. Theo đó, thẩm quyền của Toà án có thể được hiểu là tập hợp các quyền mà pháp luật quy định cho Toà án được xem xét và quyết định những vấn đề về nội dung của vụ việc. Trong tố tụng hình sự, thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm cũng bao gồm hai mặt có mối quan hệ biện chứng với nhau: thẩm quyền về nội dung và thẩm quyền về hình thức.
Thẩm quyền về hình thức của Toà án cấp phúc thẩm xác định các vụ án hình sự, các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm nào thuộc thẩm quyền xem xét của Toà án và phạm vi, mức độ xem xét của Toà án cấp phúc thẩm đối với vụ án đó. Thẩm quyền về nội dung của Toà án cấp phúc thẩm xác định các quyền của Toà án cấp phúc thẩm trong việc quyết định các vấn đề cụ thể của vụ án khi xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị. Để đưa ra được khái niệm “thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm”, cần làm rõ một số đặc điểm sau: Thứ nhất, về chủ thể thực hiện thẩm quyền xét xử phúc thẩm Toà án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là Toà án cấp trên trực tiếp của Toà án đã xét xử sơ thẩm, cụ thể: TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án của TAND cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị; TAND cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án của TAND cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị; Toà án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án của Toà án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; Toà án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án của Toà án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 29, khoản 2 Điều 37, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Điều 344 BLTTHS năm 2015. Tại Toà án cấp phúc thẩm, chủ thể trực tiếp tiến hành thủ tục xét xử phúc 10 thẩm tại phiên toà phúc thẩm và ra bản án để giải quyết vụ án hình sự theo sự phân công của Chánh án Toà án cấp phúc thẩm là HĐXX phúc thẩm.
HĐXX phúc thẩm bao gồm ba Thẩm phán, tuy nhiên việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn sẽ do một Thẩm phán tiến hành. So với HĐXX sơ thẩm, HĐXX phúc thẩm có những điểm khác biệt như không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân, số lượng Thẩm phán tham gia xét xử nhiều hơn hay trình độ của Thẩm phán tham gia xét xử cao hơn. Điều này xuất phát từ tính chất của xét xử phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, HĐXX phúc thẩm có nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, khắc phục kịp thời những thiếu sót, vi phạm của Toà án cấp sơ thẩm. Đồng thời, thông qua việc xét xử các vụ án, HĐXX phúc thẩm cũng hướng dẫn cho Toà án cấp dưới và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác trong việc nhận thức, áp dụng pháp luật đúng đắn, thống nhất.
Do đó, thành phần HĐXX phúc thẩm đòi hỏi tính chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm so với HĐXX sơ thẩm. Thứ hai, về cơ sở phát sinh thẩm quyền xét xử phúc thẩm Thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm phát sinh theo nhiệm vụ giải quyết từng vụ án cụ thể, theo sự phân công của Chánh án Toà án cấp phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị hợp lệ đối với bản án hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bởi những chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị. Những kháng cáo, kháng nghị hợp lệ khiến cho vụ án hình sự trở thành đối tượng cần được xem xét theo thủ tục phúc thẩm, đó là cơ sở đầu tiên phát sinh thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm. Kháng cáo, kháng nghị được coi là hợp lệ khi đảm bảo đầy đủ các điều kiện về: đối tượng của kháng cáo, kháng nghị; chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị; phạm vi kháng cáo, kháng nghị; thời hạn kháng cáo, kháng nghị (bao gồm kháng cáo quá hạn nhưng có lý do chính đáng và được Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận) và hình thức kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
“Về hình thức, kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án cấp cao hơn; về nội dung, kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của tòa án cấp xét xử thứ hai đồng thời là cấp xét xử cuối cùng” [14, tr.