Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ lao động nữ và thực trạng quy định pháp luật lao động về bảo vệ lao động nữ. Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật lao động về bảo vệ lao động nữ tại Công ty Cổ phần Kinh doanh than Cẩm Phả Vinacomin. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về bảo vệ lao động nữ và nâng cao hiệu quả thực hiện tại Công ty Cổ phần Kinh doanh than Cẩm Phả Vinacomin. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ BẢO VỆ LAO ĐỘNG NỮ 1.
Một số vấn đề lý luận về bảo vệ lao động nữ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của lao động nữ Hiện nay, nữ giới tham gia vào lực lượng lao động ngày càng nhiều và cũng có thể tham gia vào nhiều lĩnh vực công việc như nam giới. Tính đến thời điểm hiện tại, các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa đưa ra khái niệm cụ thể, chính xác về lao động nữ. Do đó, ta có thể xem xét khái niệm "lao động nữ" dựa trên hai phương diện, đó là: Thứ nhất, về cấu tạo sinh học, lao động nữ là NLĐ có giới tính nữ.
Sự xác định giới tính là đặc điểm riêng biệt, đặc trưng nhất để phân biệt giữa lao động nam và lao động nữ; chỉ có lao động nữ mới mang thai, sinh con và làm mẹ. Thứ hai, về mặt pháp lý, lao động nữ là một lực lượng lao động trong xã hội, là một chủ thể pháp lý, một bên của quan hệ pháp luật lao động. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2019: "Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này." Do vậy, chúng ta có thể hiểu cơ bản rằng lao động nữ là người có giới tính nữ, làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được tuyển dụng và được trả lương cũng như chịu sự quản lý từ NSDLĐ.
Lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động được xác định là NLĐ khi họ có đầy đủ năng lực chủ thể của NLĐ, gồm năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Trong đó: Năng lực pháp luật lao động là khả năng của cá nhân mà pháp luật quy định họ có quyền được làm việc, được trả công và được thực hiện những nghĩa vụ của NLĐ. Năng lực hành vi lao động là khả 7 năng của cá nhân bằng chính hành vi của mình trực tiếp tham gia quan hệ lao động, gánh vác nghĩa vụ và hưởng quyền lợi của NLĐ. Trong hệ thống các quyền của con người thì quyền của lao động nữ được coi như là một bộ phận có vai trò quan trọng, được thừa nhận thành một giá trị của xã hội.
Nhiều văn kiện, công ước, văn bản pháp luật quốc tế đã ra đời và xác định bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của người lao động là phụ nữ nói riêng. Qua đó, đề cao quyền của phụ nữ, coi đó như là một trách nhiệm của văn minh thế giới. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1948 đã công bố bản "Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người" như một tiêu chuẩn cho tất cả các dân tộc và quốc gia, mỗi cá nhân và xã hội luôn tôn trọng các quyền cơ bản này. Bản tuyên ngôn này đã ghi nhận các quyền cơ bản để tôn trọng quyền tự do cũng như quyền bình đẳng của cả hai giới Nam và Nữ.
Cụ thể như tại Điều 23 - 24 thì quyền con người trong pháp luật lao động bao gồm: quyền được làm việc, quyền được tự do lựa chọn việc làm, quyền được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, quyền được bảo vệ chống thất nghiệp, quyền được trả lương ngang nhau; quyền không bị phân biệt đối xử, quyền được trả lương xứng đáng với khả năng lao động, quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghỉ định kỳ có lương… Năm 1979, công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ - công ước Convention on the Elimination of all forms of Discrimination against Women (CEDAW) ra đời. Đây là một văn kiện quốc tế có tính chất ràng buộc pháp lý đầu tiên với nội dung chính là xây dựng một chương trình hành động để thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ và đồng thời bàn đến việc ngăn chặn sự phân biệt đối xử với họ, có thể nói đây là văn bản pháp luật điển hình nhất về bảo đảm quyền của lao động nữ. Nếu như các văn kiện trước đó chỉ mới đề cập đến sự bất bình đẳng nam nữ một cách chung chung thì CEDAW đã chỉ ra những lĩnh vực bị phân biệt, đối xử nặng nề như hôn nhân gia đình, lao động việc làm, đời sống chính trị. Những vấn đề có tính chất toàn cầu như phụ nữ thực sự 8 bình đẳng với nam giới để họ thực hiện quyền con người, cần có mục tiêu, cách thực, biện pháp đặc thù để áp dụng những nguyên tắc của nhân quyền trong việc bảo đảm bình đẳng giới.
Có thể nói, chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của lao động nữ trong việc đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của nền kinh tế cũng như góp phần làm phong phú hơn đời sống xã hội. Người lao động là phụ nữ luôn thể hiện rõ vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là việc trực tiếp tham gia vào các hoạt động tạo ra của cải vật chất để nuôi sống gia đình và thực hiện thiên chức làm mẹ để duy trì sự phát triển của xã hội. Vai trò đầu tiên của lao động nữ là trực tiếp tham gia vào thị trường lao động, tham gia vào các hoạt động tạo ra của cải vật chất để nuôi sống gia đình. Với nền kinh tế thị trường phát triển nhanh và mạnh như hiện nay, hầu hết lao động nữ đã được đào tạo cơ bản về kiến thức và trình độ chuyên môn để đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
Tuy nhiên trên thực tế, lao động nữ vẫn bị giới hạn chủ yếu trong một số lĩnh vực lao động nhất định, như các ngành công nghiệp dệt may xuất khẩu, làm da giày, chế biên nông thủy sản. Chính những bất cập không đáng có như vậy đã phần nào gây cản trở cho lao động nữ trong việc tiếp cận việc làm, đóng góp năng lực vào sự phát triển chung của xã hội. Vai trò thứ hai của lao động nữ là duy trì sự phát triển của xã hội thông qua thiên chức làm mẹ. Do tính đặc thù về thể chất nên so với lao động nam, lao động nữ thường gặp phải nhiều trở ngại hơn vì thể lực yếu hơn, phần nào làm hạn chế quyền được tham gia lao động bình đẳng với lao động nam.
Tuy quyền bình đẳng trong lao động giữa hai giới đã được quan tâm những vẫn còn tồn tại một vài quan điểm cho rằng nam giới có khả năng làm việc nhanh và hiệu quả hơn nữ giới. Hơn nữa, với thiên chức làm mẹ, lao động nữ phải trải qua nhiều giai đoạn, thời gian như thai nghén, nghỉ sinh, chăm con. sẽ phần nào ảnh hưởng đến sức khỏe và quá trình làm việc của họ. Do vậy, NSDLĐ đôi lúc có xu hướng hạn chế tuyển dụng lao động nữ và cũng chính vì vậy mà vấn đề tìm kiếm việc làm của lao động nữ phần nào sẽ khó khăn hơn lao động nam.
Khái niệm và sự cần thiết phải bảo vệ lao động nữ Trong thực tế hiện nay, lao động nữ là lực lượng lao động trực tiếp tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội và có nhiều đóng góp vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do tính đặc thù về giới nên lao động nữ luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, tạo điều kiện về mọi mặt. Sự quan tâm đó đã được thể hiện thông qua các cơ chế, chính sách pháp luật đối với lao động nữ, các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là vấn đề bảo vệ lao động nữ trong lao động. Bảo vệ lao động nữ là việc phòng ngừa, chống lại các nguy cơ xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, thân thể, quyền và lợi ích chính đáng của lao động nữ từ phía NSDLĐ trong quá trình lao động.
Mục đích của việc bảo vệ lao động nữ là để đảm bảo sự bình đẳng giữa lao động nữ và lao động nam khi tham gia quan hệ lao động. Nội dung bảo vệ lao động nữ được xác định trên cơ sở nhu cầu chính đáng của họ như: vấn đề việc làm, đào tạo; hợp đồng lao động; tiền lương và thu nhập; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và kỷ luật lao động; an toàn lao động và vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội. Việc bảo vệ lao động nữ là tực sự cần thiết. Như đã đề cập ở trên, lao động nữ ngoài việc tham gia vào lực lượng lao động để tạo ra của cải vật chất, họ còn phải đảm nhận thiên chức làm mẹ khiến thể chất có những đặc điểm riêng biệt, đặc biệt là sức khỏe, tâm sinh lý.
Do vậy, việc chú trọng đến công tác bảo vệ lao động nữ là một vấn đề hết sức cần thiết, bởi lẽ: Thứ nhất, do đặc điểm về sinh lý nên lao động nữ có thể lực yếu hơn so với lao động nam, khó đáp ứng được yêu cầu lao động trong những ngành nghề, công việc nặng nhọc, độc hại. Ngoài ra, với thiên chức làm mẹ, khi con nhỏ đau ốm, lao động nữ thường phải nghỉ việc để chăm sóc con nên thu nhập tại những thời điểm đó sẽ tạm thời bị gián đoạn. Đây cũng là một thiệt thòi của lao động nữ. Thứ hai, lao động nữ ngoài công việc hàng ngày, họ còn mang một trọng trách rất lớn là duy trì sự phát triển của xã hội thông qua thiên chức làm mẹ.
Đặc 10 biệt là trong giai đoạn mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, phụ nữ phải chịu những thay đổi nhất định về cơ thể, tâm sinh lý khiến khả năng lao động cũng sẽ bị ảnh hưởng.