CHƯƠNG I: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU NGHIÊN CỨU.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA PHƯƠNG VÀ DOANH NGHIỆP TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU .2 ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU NGHIÊN CỨU .30 CHƯƠNG II: SỰ KHÁC NHAU VỀ CHẾ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ LAO ĐỘNG TRONG 2 LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP: NHÀ NƯỚC VÀ TƯ NHÂN .1 SO SÁNH THỰC TRẠNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ LAO ĐỘNG TRONG 02 DOANH NGHIỆP.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ LAO ĐỘNG CỦA 02 LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP .3 Sự tác động của hình thức sở hữu đối với cơ chế chính sách quản lý lao động của 02 loại hình doanh nghiệp.67 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .83 PHẦN PHỤ LỤC .85 1 TÓM LƯỢC Đề tài này nghiên cứu vấn đề quản lý lao động trong doanh nghiệp dựa trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa hình thức sở hữu và hệ thống cơ chế chính sách quản lý lao động, Nhằm giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đặt ra từ thực tiễn của vấn đề này, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh 02 loại hình doanh nghiệp điển hình nhất hiện nay về hình thức sở hữu là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, cụ thể là tại 02 đơn vị: Tổng công ty công nghiệp thực phẩm Đồng Nai và Công ty gỗ Hòa Bình. Từ đó, đề tài đã làm rõ được những vấn đề chủ yếu như sau: Mối quan hệ tác động của hình thức sở hữu đến cơ chế chính sách quản lý lao động trong doanh nghiệp; những phương thức và công cụ mà thông qua đó, hình thức sở hữu tác động đến cơ chế chính sách quản lý lao động trong doanh nghiệp; những ưu khuyết điểm của mỗi cơ chế chính sách quản lý lao động tương thích với từng hình thức sở hữu; khuyến nghị một số giải pháp vận hành cơ chế chính sách quản lý lao động trong doanh nghiệp cũng như trong công tác quản lý của Nhà nước để có được quá trình quản lý lao động hiệu quả, phù hợp với hình thức sở hữu. Về mặt phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống tại 02 doanh nghiệp đại diện cho doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân với tính điển hình cơ bản được đảm bảo là tính chất về hình thức sở hữu. Do phương pháp nghiên cứu tình huống có sự hạn chế do bị chi phối bởi những đặc điểm riêng có của doanh nghiệp được chọn có thể cho ra những thông tin không mang tính điển hình.
Vì vậy nhóm nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp thu thập thông tin định tính (phỏng vấn sâu, quan sát) và định lượng theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất phân tầng (180 mẫu chính thức) tại 02 doanh nghiệp kết hợp với việc phỏng vấn sâu 02 chuyên gia am hiểu về vấn đề này để thẩm định lại tính điển hình của thông tin thu thập được. Kết quả nghiên cứu về cơ bản đã giải quyết được những vấn đề ban đầu đặt ra về mối quan hệ khách quan, mật thiết giữa hình thức sở hữu với cơ chế chính sách quản lý lao động thông qua 03 nhân tố tác động: quyền lực của Nhà nước, hoạt động của các tổ chức đoàn thể và tính quyền lực, quyền lợi của người lãnh đạo công 2 ty. Đồng thời thông tin thu thập được cũng cho thấy đặc tính khác biệt trong việc quản lý lao động của mỗi loại hình doanh nghiệp mà điển hình là về vấn đề bất bình đẳng trong doanh nghiệp tư nhân và tính bình quân cao trong doanh nghiệp nhà nước. Từ đó mỗi loại hình doanh nghiệp cũng bộc lộ những ưu khuyết điểm riêng trong việc quản lý lao động; ưu điểm nổi bật của doanh nghiệp nhà nước là tính ổn định lao động và việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động; trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân khai thác năng suất lao động có hiệu quả hơn nhiều so với doanh nghiệp nhà nước.
Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sẽ là những cơ sở dữ liệu quan trọng để các doanh nghiệp tham khảo về việc quản lý lao động trên cơ sở có cái nhìn khách quan hơn về mối quan hệ đối với hình thức sở hữu của mình. Vì thế kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị với doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước mà còn đối với các doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu khác để tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Qua đó, đề tài cũng đóng góp trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, thúc đẩy cho kinh tế xã hội của đất nước phát triển tốt đẹp hơn. Tính cấp thiết của đề tài 2.
Tình hình nghiên cứu của đề tài 3. Mục đích – nhiệm vụ nghiên cứu 4. Đối tượng – khách thể nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7. Giả thiết nghiên cứu 9. Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu của đề tài 4 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong sự hình thành và phát triền của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp luôn có vị trí đặc biệt quan trọng, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP).
Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển rất nhanh chóng, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo. Từ vai trò và vị trí rất quan trọng của doanh nghiệp trong đời sống kinh tế xã hội, việc nghiên cứu nhằm tìm kiếm những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ngày càng được chú trọng. Đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dù thuộc ngành nghề và mô hình hoạt động nào, quản lý lao động nhằm tạo được những hiệu quả sử dụng tối ưu nhất luôn được xem là một nhân tố hàng đầu để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Việc quản lý lao động trong doanh nghiệp luôn được thực hiện thông qua hệ thống các cơ chế và chính sách sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cùng với các cơ chế chính sách khác về sản xuất kinh doanh và quan hệ với đối tác bên ngoài.
Vì thế việc hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý lao động được xem là một trong những vấn đề cốt lõi để phát triển doanh nghiệp và nhìn rộng ra là sự phát triển của một nền kinh tế. Tuy tất cả các doanh nghiệp dù ở loại hình sản xuất hoặc mô hình kinh tế nào cũng hướng đến mục tiêu hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý lao động nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nhưng sự hình thành và vận hành của hệ thống cơ chế chính sách trong mỗi loại hình doanh nghiệp luôn có những đặc điểm riêng biệt. Sự riêng biệt đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân tác động tùy vào điều kiện kinh doanh riêng của mỗi doanh nghiệp như hình thức sở hữu, kinh nghiệm quản lý, lịch sử hình thành, trình độ công nghệ kỹ thuật… Tuy nhiên sau quá trình khảo sát và tìm hiểu các lý thuyết, số liệu, tình hình thực tế, nhóm nghiên cứu xác định trong những nhân tố tác động đến sự khác biệt giữa các hệ thống cơ chế chính sách quản lý lao động trong doanh nghiệp thì hình thức sở hữu là nhân tố tác động trực tiếp và quan trọng nhất. Nói cách khác, cơ chế chính sách quản lý lao động tại một doanh nghiệp có hiệu quả hay không trước hết phải phù hợp với hình thức sở hữu của doanh nghiệp.
Do đó để xây dựng cơ chế chính sách 5 quản lý lao động có hiệu quả phải xuất phát từ đặc điểm về hình thức sở hữu của từng loại hình doanh nghiệp trên cơ sở nhận thức đúng đắn sự tác động của hình thức sở hữu đến cơ chế chính sách quản lý lao động. Để thực hiện được việc nghiên cứu cơ chế chính sách quản lý lao động dưới tác động của hình thức sở hữu, thao tác so sánh giữa các loại hình doanh nghiệp với nhau về mặt lý luận và trong thực tiễn là cần thiết để có được cơ sở khoa học khách quan, toàn diện.Việc so sánh giữa các loại hình doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu sẽ mang lại cho nhà khoa học lẫn doanh nghiệp cái nhìn tổng thể, biện chứng hơn so với việc tự nhìn nhận trong khuôn khổ mỗi một loại hình doanh nghiệp. Cho đến nay, đã có nhiều cuộc nghiên cứu về cơ chế chính sách quản lý lao động trong doanh nghiệp được tiến hành với nhiều phạm vi, quy mô và tính chất khác nhau. Tuy nhiên việc nghiên cứu mối quan hệ của cơ chế chính sách quản lý lao động và hình thức sở hữu thì vẫn còn hạn chế về cả quy mô lẫn số lượng các công trình nghiên cứu.
Mặt khác đối với những công trình đề cập đến vấn đề này cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu độc lập tại một loại hình doanh nghiệp nhất định. Hiện nay ở nước ta có 07 loại hình doanh nghiệp tồn tại. Tuy nhiên, khi xét về hình thức sở hữu thì quan trọng nhất có thể kể đến 02 hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân. 02 hình thức sở hữu này được cụ thể hóa trên thực tế là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.
Trong thời gian qua những hiện tượng biến động lao động tại 02 loại hình doanh nghiệp này như chảy máu chất xám, hiệu suất lao động kém ở doanh nghiệp nhà nước, hoặc hiện tượng đình công, tranh chấp lao động và quan hệ chủ - thợ căng thẳng tại doanh nghiệp tư nhân, … cũng được Đảng, nhà nước và xã hội quan tâm vì sự tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế xã hội. Ẩn đằng sau những hiện tượng đó chính là sự bất ổn về cơ chế chính sách quản lý lao động tại một bộ phận thuộc 02 loại hình doanh nghiệp nêu trên trong việc xử lý chưa hợp lý mối quan hệ giữa cơ chế chính sách quản lý lao động với hình thức sở hữu. Vậy về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn hình thức sở hữu đã tác động như thế nào đến cơ chế chính sách quản lý lao động trong doanh nghiệp?