Chương 1. Một sô van đề lý luận về bảo vệ lao động nữ và pháp luật lao động vê bảo vệ lao động nữ. Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ lao động nữ và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hà Nội. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ lao động nữ trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ LAO ĐỘNG NU VÀ PHAP LUẬT LAO DONG VE BẢO VE LAO DONG NU 1. Khai niệm về lao động nữ va bao vệ lao động nữ 1. Khai niệm và đặc diém của lao động nữ Xuất phát từ những đặc tính riêng và vai trò to lớn của lao động nữ, pháp luật quốc tế cũng như pháp luật lao động nước ta đã có những cơ chế, chính sách phù hợp cho họ. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật lao động Việt Nam từ trước cho đến nay và hiện nay là Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2012 chưa có quy định cụ thê nào về khái niệm lao động nữ.
Trên thực tế, căn cứ vào sự khác biệt về gidi CÓ thê hiểu lao động nữ là NLD có giới tính được xác định là phụ nữ. Giới tính theo cách hiểu thông thường chính là sự khác biệt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Tại Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp (1958) thì giới tính để chỉ sự khác biệt về đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội!. Trên tinh thần đó, cần nhìn nhận khái niệm lao động nữ ở góc độ pháp lý, cụ thé như sau: Trong Từ điển Luật học đã đưa ra định nghĩa lao động nữ là NLD thuộc giới nữ và khi tham gia quan hệ lao động có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của NLD, đồng thời được pháp luật lao động dành cho những quy định áp dụng riêng.
Xét về mặt pháp lý, lao động nữ là người lao động. BLLĐ năm 2012 đã quy định khái niệm NLD tại khoản 1 Điều 3, theo đó “Người lao động là người từ du 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp dong lao động, được trả lương và chịu sự quản ly, điều hành của người sử dụng lao động”. Như vậy, khi tham gia vào quan hệ lao động, lao động nữ được xác định là NLD khi họ có đầy đủ năng lực chủ thể của NLĐ, nghĩa là họ có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Với tư cách là NLĐ, lao động nữ là một bên của quan hệ pháp luật lao động, do đó họ có những quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật quy định.
Từ sự phân tích ở trên có thể hiểu khái niệm chung về lao động nữ như sau: Lao động nữ là NLD có giới tinh nữ, từ đủ 15 tudi trở lên, có khả năng lao động và - ! Nguyễn Thị Hương Lâm (2017), Bảo vệ lao động nữ theo quy định của pháp luật lao động từ thực tiên thực hiện tại khu công nghiệp Sam Sung Yên Phong, tỉnh Bac Ninh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Truong Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. có giao kết hợp đồng lao động. Trong một số trường hợp, lao động nữ có thê là NLD chưa đủ 15 tuổi, nhưng phải thuộc các trường hợp theo quy định của pháp luật. Từ khái niệm lao động nữ nêu trên, có thé khang định rằng lao động nữ trước hết là NLĐ, nên họ cũng mang những đặc điểm của NLĐ nói chung, là những người làm công ăn lương, chịu sự quản lý, điều hành, phải tuân theo mệnh lệnh của NSDLD.
Đó là sự phụ thuộc tất yếu của họ trong quan hệ lao động với NSDLĐ. Đây là sự lệ thuộc về mặt pháp lý của NLD vào NSDLD, bởi khi NLD đã cam kết với NSDLĐ về việc thực hiện công việc theo hợp đồng lao động thì quyền và nghĩa vụ của họ được xác lập va NLD phải tự mình thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết dưới sự quản lý của NSDLD trong khuôn khổ các quy định pháp luật. Bên cạnh những đặc điểm chung của NLD, lao động nữ còn có những đặc điểm riêng thể hiện tính đặc thù và đây là những đặc điểm riêng giúp phân biệt lao động nữ với lao động nam. Thứ nhất, về mặt sinh lý, với đặc thù về chức năng sinh sản dé duy tri nòi giống, phụ nữ phải trải qua các giai đoạn sinh lý đặc biệt như thời kỳ kinh nguyệt, thai nghén, cho con bú ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, khả năng lao động của phụ nữ.
Đây là thiên chức đặc biệt của người phụ nữ được tạo hóa ban cho, chức năng này gắn một cách tự nhiên với sự tái sản xuất con người, nam giới không thể làm thay phụ nữ những việc trên. Đặc điểm này cần được xem xét khi nhìn nhận, đánh giá các đặc trưng cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới lao động nữ. Thứ hai, về mặt thê trạng và sức khỏe, cơ thể phụ nữ không có cau tạo thé chat dé chịu đựng những tác động lớn và rat dé bị ảnh hưởng bởi các yếu tô độc hai, nguy hiểm, họ có thể trạng yếu hơn lao động nam nhưng ngược lại họ có sự khéo léo, bền bi, déo dai trong công việc. Điều này lý giải vì sao những công việc nặng nhọc như mang vac vật nặng hay làm việc trong môi trường đặc biệt độc hại, nguy hiểm thường do lao động nam đảm nhận còn những công việc đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ như nghề may mặc, chế biến thực phẩm, lắp ráp linh kiện điện tử, thủ công mỹ nghệ.
thường do lao động nữ đảm nhận. Thứ ba, về mặt tâm lý, đối với người Á Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, do vẫn còn ảnh hưởng của tư tưởng “trong nam, khinh n# người phụ nữ luôn bi coi là vai trò thứ yếu trong gia đình và xã hội, bị lệ thuộc vào người đàn ông. Tư tưởng nay đã ăn sâu vào tiêm thức từ xưa đên nay, vi thê trong xã hội vai trò của nam giới được dé cao và tồn tại những định kiến nặng nề, khắc nghiệt đối với người phụ nữ, điều đó đã hạ thấp giá trị của phụ nữ và hạn chế công việc của họ. Từ những phân tích trên cho thấy, bên cạnh những đặc điểm chung của NLĐ, lao động nữ còn có những đặc điểm riêng chi phối tới quan hệ lao động.
Vi vậy, ngoài những quy định áp dụng cho tất cả NLĐ nói chung, pháp luật lao động có quy định riêng áp dụng cho lao động nữ nhằm bảo vệ họ trước những nguy cơ bất lợi có thé xảy ra do anh hưởng từ chính những yếu t6 đặc thù. Đồng thời cũng giúp họ thực hiện tốt chức năng lao động xã hội vừa có thể thực hiện tốt thiên chức của người phụ nữ. Khai niệm báo vệ lao động nữ Trong phạm vi pháp luật lao động, bảo vệ lao động nữ chủ yếu được nhìn nhận trong mối quan hệ của họ với NSDLĐ nhằm chống lại nguy cơ bị bóc lột sức lao động, bị đối xử bất công hay phải lao động trong điều kiện không đảm bảo. Như vậy, có thể hiểu bảo vệ lao động nữ là phòng ngừa và chống lại mọi sự xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, thân thé, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của lao động nữ, từ phía NSDLD trong quan hệ lao động.
Với mục tiêu bảo vệ lao động nữ một cách toàn diện, đã có rất nhiều văn kiện, công ước quốc tế được ra đời. Theo Điều 23, 24 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (1948) đã ghi nhận quyền bình đăng nam nữ, con người có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn công việc phù hợp, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được hưởng lương băng nhau. Công ước quốc tế về các quyền chính trị, xã hội, văn hóa của Liên Hợp Quốc (1996) đã quy định về sự ưu tiên đối với các bà mẹ trong thời gian trước và sau khi sinh con. Đặc biệt, Công ước CEDAW về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (1979) được xem như kim chỉ nam trong vấn đề bảo vệ lao động nữ trên nhiều lĩnh vực.
Tất cả những văn kiện đó đều không năm ngoài mục tiêu thúc đây công băng xã hội và bảo vệ lao động nữ. Pháp luật lao động về bảo vệ lao động nữ 1. Sự can thiết phải bảo vệ lao động nữ trong pháp luật lao động Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những NLD trong xã hội. Đối với lao động nữ, xuất phát từ đặc điểm riêng mang tính đặc thù của họ, ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ cua NLD còn phải đảm nhận thiên chức làm me, hơn nữa, khi tham 10 gia quan hệ lao động, lao động nữ cũng phải chịu áp lực tâm lý từ nhiều phía, từ công việc ở cơ quan đến công việc ở gia đình.
Những vấn đề tự nhiên cũng như các van đề xã hội phần nào đã hạn chế quyền tự do lao động, cơ hội học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, cơ hội thăng tiến nên lao động nữ thường chịu thiệt thòi hơn lao động nam trong quan hệ lao động. Xuất phát từ điều đó, pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia đều có những quy định riêng đối với lao động nữ, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng đặc thù này khi tham gia vào quan hệ lao động. Từ đặc điểm của lao động nữ và thực trạng sử dụng lao động nữ hiện nay, một yêu cầu khách quan được đặt ra là sự cần thiết phải bảo vệ lao động nữ trong hệ thống pháp luật lao động. Mục tiêu cơ bản mà các quy định riêng của pháp luật lao động đối với lao động nữ hướng tới được thê hiện như sau: Dưới góc độ kinh tế, việc đặt ra những quy định đối với lao động nữ nhằm tạo điều kiện cho họ tham gia vào quan hệ lao động, tận dụng mọi tiềm năng dé phat triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho NLD nữ va gia đình của ho.
Dưới góc độ xã hội, việc bảo vệ quyền lợi của lao động nữ thể hiện tinh thần nhân đạo, đảm bảo công bằng xã hội. Với các quy định riêng được quy định trong pháp luật lao động, lao động nữ ở Việt Nam vừa được làm việc, vừa có điều kiện để thực hiện thiên chức làm mẹ.