Chương 1 NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE ĐẠI DIEN THEO PHÁP LUAT CUA PHÁP NHÂN 1. Khái luận về pháp nhân Có nhiều quan niệm khác nhau về pháp nhân. Có quan niệm xuất phát từ việc đề cao coi trọng cá nhân con người nên xem pháp nhân theo một chiều hướng bổ sung cho các chủ thể của pháp luật, ví dụ điển hình như sau: “Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, đúng như tên gọi “trách nhiệm hình sự của pháp nhân” là việc bé sung chủ thé thứ hai có thé phải chịu trách nhiệm hình sự có tính “truyền thống” là cá nhân/thể nhân.”' Ngược lại có quan niệm lại đề cao tổ chức của con người nên xem thê nhân như pháp nhân. BLDS 2015 có thể là một điển hình theo quan niệm thứ hai này.
Điều 3, khoản 1, BLDS 2015 quy định nguyên tắc “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đăng, không được lấy bất kỳ lý do nào dé phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.” Dù theo quan niệm nào thì pháp nhân luôn luôn giữ vai trò to lớn trong các hệ thống pháp luật theo cơ chế kinh tế thi trường vì đơn giản là trong nền kinh tế này không thé thiếu các công ty hoạt động một cách độc lập được sở hữu tai sản, được tự do giao kết hợp đồng và được tham gia vào các quan hệ xã hội khác, trừ những thứ mà bản chất của nó không cho phép, ví dụ như bầu cử, ứng cử, kết hôn, nuôi con nuôi. Câu hỏi đặt ra pháp nhân là gì và có bản chất pháp lý gì là câu hỏi không có sự trả lời thống nhất. “Các tô chức của con người xét từ phương diện nào đó là các phương tiện giúp con người thỏa mãn các nhu câu sông. Đê ' Nguyễn Ngọc Hòa (2020), Trách nhiệm hình của pháp nhân thương mại- Nhận thức can thong nhất?, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, tr. duy tri và phát triển các t6 chức đó trong mối quan hệ tương thuộc, con người thông qua pháp luật ban tặng cho một số loại tổ chức nhất định một đời sống pháp lý thích ứng, có nghĩa là biến chúng thành chủ thé của một số quyên thích ứng, và, trong mối quan hệ tương thuộc, gánh vác những nghĩa vụ nhất định. Cách thức này đã được mở rộng tới lợi ích (không chỉ là các tổ chức), có nghĩa là một hoặc một tập hợp lợi ích nào đó cũng được xem là chủ thé của quyền. Chủ thé của quyền có nghĩa là chủ thé của pháp luật bởi pháp luật bao gồm các qui tắc xử sự bắt buộc chỉ ra quyền và nghĩa vụ thích ứng của các bên tham gia các quan hệ (nói một cách đơn giản).
Phương thức ban tặng này đã mô phỏng đời sống pháp lý của thé nhân gan cho chủ thé khác (tô chức hoặc lợi ích) dé xem nó cũng là người (dưới giác độ pháp lý), nhưng đồng thời gan cho nó một tinh từ dé phân biệt với thé nhân (con người tự nhiên có thé chất — chủ nhân đích thực của thé giới) và gọi nó là pháp nhân (con người pháp định).”” Nói về sự cần thiết, căn nguyên ra đời, các lợi ích liên quan, cách nhận thức và điều chỉnh pháp nhân mà đoạn văn này cô đọng lại có phần nào đó lý giải cho quan niệm của BLDS 2015 về pháp nhân được quy định trong điều khoản trích dẫn trên. Như vậy pháp nhân là chủ thể của các quyền nên là chủ thé của pháp luật nói chung không chi trong luật tư. Điều 51, khoản 1 của Hiến pháp 2013 có quy định khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nhân, doanh nghiệp, cá nhân, tô chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Luật hành chính luôn nhắc đến các pháp nhân trong điều hành xã hội và xử lý đối với các pháp nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, chống buôn lậu, ? Ngô Huy Cương (2015), “Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thao Bộ luật Dân sự (sửa đôi)” (tr.
38 — 49), Số chuyên dé Sửa đối, Bồ sung Bộ luật Dân sự, Tạp chi Dân chủ và Pháp luật, tr. vi phạm quyền sở hữu công nghiệp. Ngay cả trong lĩnh vực luật hình sự hiện nay đã truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Các luật gia La Mã có lẽ là những người đầu tiên trên thế giới thừa nhận và đặt cơ sở pháp luật cho việc thừa nhận pháp nhân với các quy định sơ khai về trao quyền cho collegia, municipia.` Chính từ nền tảng luật học này của La Mã, thuật ngữ persona ficta đã ra đời với ý nghĩa chủ thé giả tưởng hay còn gọi là pháp nhân vào thế ky thứ 13.* Ngày nay nguyên tắc tự do kinh doanh ở nước ta, các công ty phát triển với số lượng ngày càng nhiều.
“Các công ty được lập ra dé kiếm lời băng cách cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng. Các tô chức như vậy có mối quan hệ với cá nhân con người và quan hệ với nhau. Mỗi tổ chức lại có tác dụng nhất định trong một lĩnh vực quan hệ nào đó của đời sống xã hội. Trong mối quan hệ với cá nhân con người và quan hệ với nhau, các tổ chức như vậy cần có một đời sống pháp lý, tức là có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ.
Ví dụ một công ty được lập ra có mục đích cung cấp thực phẩm thì phải có quyền sở hữu những gì nó dự định bán ra và phải được giao kết hợp đồng với khách hàng để tự ràng buộc mình vào một quan hệ pháp ly cụ thé mà trong đó nó phải gánh chịu những nghĩa vụ nhất định và được hưởng quyền lợi nhất định.” 3 Andrew Borkowski & Paul du Plessis, Roman Law an ed, Oxford University Press 2005) trang 87 — 89 dẫn theo Giáo trình luật dân sự 1- Phần chung, Trường Dai học Luật- DHQGHN, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. “The Historic Background of Corporate Legal Personality.” The Yale Law Journal 35, no.2307/788782; Maximilian Koessler, The Person in Imagination or Persona Ficta of the Corporation, 9 La. (1949) Available at: https://digitaleommons.edu/lalrev/vol9/iss4/2, dẫn theo Giáo trình luật dân sự 1- Phan chung, Trường Đại học Luật- ĐHQGHN, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 5 Trường Đại hoc Luật- DHQGHN (2023), Giáo trình luật dân sự 1- Phân chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 10 Tóm lại, pháp nhân là chủ thể thông thường của pháp luật giỗng như thé nhân, có một đời sống pháp lý riêng dé phân biệt với thành viên hoặc các thành viên của nó nếu nó là một tổ chức hay đoàn thé gồm nhiều thành viên”.
BLSD 2015 nói rõ một nguyên tắc quan trọng gắn bó với kinh tế thị trường như sau: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.” (Điều 74, khoản 2), có nghĩa là không ai có quyền cản trở thành lập pháp nhân của bất kỳ ai trừ đạo luật được Quốc hội thông qua. Pháp nhân được thành lập theo hai phương thức bao gồm: đăng ký thành lập và quyết định thành lập của cơ quan Nhà nước có thâm quyên. Việc thành lập phải được công khai hóa dé bảo vệ người thứ ba. Vì vậy Điều 82, BLDS 2015 quy định: “1.
Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thâm quyên. Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đôi và đăng ký khác theo quy định của pháp luật. Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.” Pháp nhân có thể có nhiều thành viên như các hội, có thé có một thành viên như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cũng có thể không có thành viên như các quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Pháp nhân nhiều thành viên được xem là một tô chức là hình thức pháp nhân đầu tiên trong lịch sử.
Theo BLDS 2015 thì pháp nhân là một tổ chức phải có các yếu tố sau dé phân biệt với các tổ chức khác: “a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; 6 Trường Đại học Luật- DHQGHN (2023), Giáo trình luật dân sự 1- Phân chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 11 b) Có cơ cầu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Pháp nhân có một thành viên phải có tài sản tách bạch với thành viên đó.
Còn pháp nhân không thành viên phải là một khối tài sản độc lập và có cơ cấu quản trị. Riêng đối với pháp nhân không thành viên có một quy chế đặc biệt khi giải thể. Thông thường một pháp nhân nhiều thành viên hoặc một thành viên giải thể, sau khi đã thanh toán tất cả các khoản nợ, số tài sản còn lại trả về cho thành viên hoặc các thành viên. Nhưng đối với pháp nhân không thành viên thì BLDS 2015 quy định như sau: “Truong hợp quỹ xã hội, quỹ từ thiện đã thanh toán hết chỉ phí giải thé và các khoản nợ quy định tại khoản 1 Điều này, tài sản còn lại được chuyên giao cho quỹ khác có cùng mục đích hoạt động.
Trường hợp không có quỹ khác có cùng mục đích hoạt động nhận tai sản chuyển giao hoặc quỹ bị giải thé do hoạt động vi phạm điều cắm của luật, trái đạo đức xã hội thì tai sản của quỹ bị giải thê thuộc về Nhà nước.” (Điều 94, khoản 3) Pháp nhân có thể chia thành các loại khác nhau có ý nghĩa pháp lý khác nhau theo từng cách chia. Tuy nhiên liên quan tới đề tài luận văn này, chia pháp nhân thành pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp và trong pháp nhân tư pháp có pháp nhân dân sự và pháp nhân thương mại là có ý nghĩa quan trọng nhất dé tìm hiểu van dé đại diện theo pháp luật của pháp nhân. 12 Pháp nhân dân sự và pháp nhân thương mại khác nhau ở chỗ thành lập theo luật dân sự hay luật thương mại cùng với cách chia pháp nhân công pháp thành lập theo luật công (bao gồm các hội như liên hiệp phụ nữ, đoàn thanh niên, hội nông dân tập thê.) và pháp nhân tư pháp thành lập theo luật tư (bao gồm các công ty dân sự và các công ty thương mại). BLDS 2015 có quy định nhắc tới pháp nhân thương mại nhưng chưa nói tới pháp nhân dân sự.