CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN LÝ RỦI RO TRONG QUAN LÝ THUÊ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.1 Khái quát về quản lý rủi ro trong quản lý thuế 1.1 Khái niệm, đặc điểm về quản lý thuế và quản lý rủi ro 1.1 Khái niệm quản ly thuế Nghiên cứu về QLT, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm quản lý nói chung. Theo cách hiểu thông thường, quản lý được hiểu là việc một chủ thé cụ thé tô chức và điều hướng một số đối tượng nhất định dé điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi con người, nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của các đối tượng đó theo mục tiêu đã được đề ra. Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự hình thành của nhà nước. Trong hoạt động quản lý xã hội, có nhiều thực thể tham gia, bao gồm các đảng phái chính tri, quốc gia, tô chức chính trị xã hội, và trong sỐ này, vai trò của Nhà nước là quan trọng nhất.
Quản lý nhà nước bao gồm việc sử dụng quyền lực của Nhà nước thông qua các cơ quan quản lý nhà nước, để can thiệp vào mọi khía cạnh của cuộc sống xã hội. Điều này đôi khi bao gom việc sử dụng quyén lực nha nước một cách đơn phương và cưỡng chế đối với cá nhân và tổ chức trong xã hội, với mục tiêu phục vụ lợi ích của toàn xã hội. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế là quá trình tác động có tổ chức và hợp pháp của Nhà nước lên nền kinh tế quốc gia trong bối cảnh quá trình hội nhập quốc tế. Mục tiêu của hoạt động quản lý này là tận dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, cơ cầu kinh tế cả trong và ngoài nước, và mở rộng các hoạt động giao thương quốc tế.
Đồng thời, quản lý tài chính công là quá trình xác định, phát triển chính sách và hệ thống tài chính quốc gia, sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp để ảnh hưởng đến hoạt động tài chính công, nhằm đảm bảo rằng chúng hoạt động phù hợp với yêu cầu khách quan của nên kinh tê xã hội và đáp ứng tôt các nhiệm vụ của Nhà nước. QLT từ lâu đã được xem như một khía cạnh quan trong của quản lý xã hội và luôn liên quan chặt chẽ đến vai trò của Nhà nước. Thực tế, việc QLT được coi là một trong những trách nhiệm cốt lõi của Nhà nước, và do đó, thường được coi là một khía cạnh của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế. Trong giáo trình Tài chính công, các tác giả cho rang: “Quản by thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thụ NSNN thục hiện.
Đặt ra thuế là đặc quyền thuộc Nhà nước. Lập kế hoạch thu, t6 chức thu thuế, kiểm tra, thanh tra và xử phạt thuế đương nhiên là những nghiệp vụ nội hàm đặc quyên đó ”°. Tóm lại, QLT là một phần quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế và là một thành phân quan trọng của quản lý tài chính công. Nó bao gồm việc tổ chức, điều hành và giám sát các hoạt động thuế bởi các cơ quan thuế, nhằm đảm bảo răng NNT tuân thủ các quy định pháp luật và đóng góp thuế đúng theo quy định của Nhà nước.
Vi vậy, OLT có thé được định nghĩa là tập hợp các hoạt động tô chức, diéu hành và giám sát do cơ quan thuế thực hiện, nhằm đảm bảo rằng NNT tuân thủ đúng nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật.2 Đặc điểm quản lý thuế Hoạt động QLT có những đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, QLT là quá trình quản lý các hoạt động liên quan đến việc nộp thuế theo quy định của pháp luật. Cơ quan thuế chịu trách nhiệm về việc đảm bảo tuân thủ các quy định thuế của các tổ chức và cá nhân dựa trên quyền lực của Nhà nước. Việc này đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và sự công khai trong quá trình quản lý của các cơ quan Nhà nước. Qua đó, mục tiêu chính là đảm bảo nguồn thuế thu về NSNN được quản lý một cách đầy đủ và đúng thời han, đê phục vụ cho các nhu câu tai chính của Nhà nước.
Dương Thị Binh Minh (chủ biên) (2005), Gido trình Tài chính công, NXB Tài chính, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, việc QLT cũng nhằm đảm bảo sự công bang và bình đăng trong việc thu thuế đối với cả tổ chức lẫn cá nhân. Điều này có nghĩa là thuế phải được thu từ mọi đối tượng theo các quy tắc và mức thuế đã được thiết lập, không được ưu ái hoặc kỳ thị bất kỳ đối tượng nào. Hai là, QLT chủ yếu dựa vào phương pháp hành chính, với nhiệm vu quan trọng là tác động có tô chức và điều chỉnh.
Phương pháp hành chính trong QLT đòi hỏi việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ quan trọng. Đầu tiên, nó liên quan đến việc xây dựng mối quan hệ giữa con người, cũng như giữa cơ quan thuế và các tổ chức cũng như cá nhân trong xã hội. Tiếp theo, nó còn liên quan đến việc thiết lập và duy trì quan hệ giữa các cơ quan thuế ở các cấp khác nhau, cũng như mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước khác. Trong các mỗi quan hệ này, cơ quan Nhà nước cấp dưới phải tuân theo mệnh lệnh của cơ quan cấp trên theo thứ bậc hành chính.
Điều này có nghĩa là các cơ quan thuế ở cấp dưới phải tuân thủ và thực hiện các hướng dẫn và quyết định từ cấp trên trong quá trình QLT. Mặt khác, NNT cũng phải tuân theo mệnh lệnh của các cơ quan Nhà nước trong việc đảm bảo răng tiên thuê được gửi đên NSNN. Đồng thời, phương pháp hành chính trong QLT cũng thể hiện qua quy trình và thủ tục thuế, đặc biệt là sự sắp xếp của các bước công việc cần thực hiện và các tài liệu, giấy tờ cần thiết để ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến QLT đóng vai trò cực ky quan trọng trong việc đảm bảo quy trình QLT được thực hiện một cách rõ ràng, minh bạch và thủ tục thu, nộp thuế trở nên đơn giản.
Điều này giúp giảm thiêu sự nhầm lẫn và giúp cơ quan thuế hoạt động một cách hiệu quả hơn. Ba là, QLT là một hoạt động mang tính kỹ thuật và yêu cầu sự nam vững nghiệp vụ. Điều này thể hiện ở việc các thủ tục hành chính và các chứng từ liên quan đến QLT có mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau. Nguyên nhân chính của sự phụ thuộc này là do các yêu cầu kỹ thuật liên quan đến việc xác định sô thuê phải nộp.
Đê xác định sô thuê một cách chính xác, cân phải 10 thực hiện các bước nghiệp vụ phức tạp, bao gồm thu thập thông tin tài chính, xác định các khoản thuế áp dụng, tính toán số thuế cần nộp, và xác minh tính hợp lệ của thông tin này. Các chứng từ và thủ tục hành chính được thiết kế dé hỗ trợ và ghi nhận quá trình này. Như vậy, tính chặt chẽ và tính kỹ thuật trong QLT thê hiện qua việc tất cả các yếu tố liên quan đến thuế, từ việc thu thập dữ liệu đến xác định và nộp thuế phải hoạt động một cách hài hòa và đồng bộ. Điều này đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong quá trình QLT, đồng thời giúp ngăn chặn sự sai sót và gian lận thuế.3 Khải niệm rủi ro và quan ly rủi ro Trong cuộc sông, cũng như trong mọi hoạt động của con người, luôn tồn tại khả năng xảy ra những sự kiện mà chúng ta không mong đợi, và không thể hoàn toàn tránh khỏi được.
Đây chính là những tình huống được gọi là "rủi ro". Rui ro có thé được hiểu là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng xảy ra những biến cố bất thường với hậu quả thiệt hại và mang lại kết quả không mong đợi. Rui ro thường là một sự kiện không thé dự đoán hoặc xác định trước, và nó có thể ảnh hưởng không chỉ đến mặt vật lý và tài chính mà còn ảnh hưởng đến mặt tinh thần và tâm lý của con người. Khi rủi ro xảy ra, người ta thường phải đối mặt với các tình huống không mong muốn và thường phải đánh giá mức độ thiệt hại.
Một điểm quan trọng là đôi khi mức thiệt hại không thể đo lường bằng các yếu tố vật lý hoặc tài chính, như mất mát tinh thần, tâm lý, hoặc sự ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Điều này đặt ra hành vi QLRR, bao gồm việc xây dựng kế hoạch dự phòng và sẵn sàng đối mặt với những thách thức mà cuộc sống có thé đưa ra. Theo cách hiểu thông thường, rủi ro có thể được hiểu là những hậu quả hoặc ton thất có khả năng xảy ra trong tương lai đối với các bên liên quan, có nguyên nhân từ các sự kiện xảy ra trong thực tế. Những sự kiện này có thể là 3 Phạm Minh Việt, luận án: “Quản lý thu bảo hiểm xa hội ở Việt Nam”, Học viện tài chính, 2019 11 kết quả của quyết định hoặc hành động có ý chí chủ quan của các bên tham gia, hoặc có thé xuất phat từ những yếu tố khách quan mà họ không thé kiểm soát.
Theo Sách hướng dẫn ISO/IEC 73 Quản lý rủi ro - Thuật ngữ - Những nguyên tắc dé sử dụng các chuẩn mực, Chuẩn mực quan lý rủi ro, “Rui ro là sự kết hợp cua một sự kiện có thể xảy ra mà hệ quả cua nó mang lại lợi ích hoặc gây ra ton that”. Trong các lĩnh vực có mức độ an toàn quan trọng, hậu quả của rủi ro thường chỉ dẫn đến các hậu quả tiêu cực. Vì vậy, QLRR trong các ngành nay thường tập trung vào việc dự phòng và giảm thiêu tổn that mà rủi ro có thê gây ra. Có thê nói, rủi ro vê thuê thuộc nhóm này.
Có thé thay răng rủi ro là một khía cạnh trừu tượng và khó đo đếm đối với tác động của nó lên cuộc sống con người. Vì vậy, các nhà quản lý cần tiến hành nghiên cứu cặn kẽ về tính chất và tác động của rủi ro trong từng lĩnh vực cụ thé dé phát triển các biện pháp xử lý phù hợp. Điều quan trọng là phải nghiên cứu từng loại rủi ro cụ thé có thé tiềm ân trong lĩnh vực hoạt động của họ để có khả năng đánh giá chính xác mức độ tác động đối với từng hoạt động.