Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ QUẢN LÝ THUẾ VÀ THÔNG TIN QUẢN LÝ THUẾ ---------------------- 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ 1. Khái niệm Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tùy vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng mà các nhà kinh tế có quan điểm khác nhau về Thuế.
Theo khái niệm được sử dụng phổ biến, Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân nhằm trang trải mọi chi phí vì lợi ích chung. Nộp Thuế là một nghĩa vụ xã hội; công dân không có quyền trốn và không được quyền đòi hỏi đối giá trực tiếp. Số tiền thuế phải nộp không tuỳ thuộc vào hàng hóa và dịch vụ công do Chính phủ cung cấp mà tùy thuộc vào khả năng thụ thuế. Do vậy, hai đặc trưng của Thuế thường được nhắc đến: tính cưỡng chế và tính không hoàn trả trực tiếp và đối giá.
Thuế gắn chặt với các hoạt động kinh tế, bởi vì về mặt nguyên tắc, thuế chủ yếu điều tiết một phần giá trị thặng dư được tạo ra từ hoạt động sản xuất-kinh doanh. Do đó, Thuế có một vai trò nhất định đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hệ thống thuế gồm nhiều loại thuế hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, nhằm thực hiện nhiều mục tiêu, một sắc thuế có thể được ban hành theo một trong hai hình thức pháp lý là luật và pháp lệnh. Ví dụ: Heä thoáng thueá Vieät Nam hieän haønh ban haønh döôùi hình thöùc luaät goàm caùc saéc thueá: Thueá söû duïng ñaát noâng nghieäp; Thueá chuyeån quyeàn söû duïng ñaát; Thueá xuaát khaåu, Thueá nhaäp khaåu; Thueá tieâu thuï ñaëc bieät; Thueá giaù trò gia taêng; Thueá thu nhaäp doanh nghieäp vaø hình thöùc phaùp leänh coù caùc saéc thueá: Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; 123doc 12 Thuế tài nguyên và Thuế nhà, đất.
Về kết cấu của một sắc thuế. Tuy các loại thuế khác nhau, nhưng chúng đều có một kết cấu chung, và thường được trình bày theo một trình tự thống nhất, gồm các yếu tố cấu thành chủ yếu như : Tên gọi, đối tượng nộp thuế (người nộp thuế), đối tượng tính thuế, thuế suất, chế độ giảm thuế và miễn thuế, tổ chức thực hiện (hành thu). Chức năng Thuế được sử dụng để đạt đến nhiều mục tiêu. Thông thường nhiều tác giả cho rằng Thuế có các chức năng chủ yếu là phân phối và phân phối lại thu nhập; điều tiết nền kinh tế; góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là loại chức năng cơ bản, đặc thù nhất mà tất cả các nước đều phải dựa vào đó. Thông qua chức năng này các quỹ bằng tiền của Nhà nước được hình thành. Đây chính là sức mạnh cơ sở vật chất bảo đảm cho sự hoạt động của và tồn tại của Nhà nước. Khi bàn đến chức năng tài chính của Thuế, một số người thường đơn giản cho rằng: Thuế là phương tiện tạo nguồn thu nhập- theo nghĩa thông thường trưng thu tiền- đối với Nhà nước.
Điều đó không hoàn toàn chính xác, bởi vì Nhà nước có thể có tiền bằng nhiều cách khác nhau: yêu cầu ngân hàng trung ương mở rộng tín dụng, phát hành thêm tiền…Nhưng việc sử dụng những phương cách này đương nhiên phải được Nhà nước cân nhắc vì chúng chứa đựng những mầm mống của nguy cơ lạm phát. Bởi vậy, ngoài việc phát hành tín dụng để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, Nhà nước có thể sử dụng Thuế một cách thường xuyên và lâu dài. Mục tiêu thực sự của chính sách thuế, theo nhiều nhà kinh tế là “ rút bớt sức mua khỏi những người đóng thuế, để những người đóng thuế từ bỏ sự kiểm soát đối với tài nguyên kinh tế và làm cho tài nguyên này thành khả dụng đối với Nhà nước”. Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế được Nhà nước vận dụng dẫn đến kết quả là diễn ra quá trình “nhà nước hóa” một bộ phận GDP dưới hình thức tiền tệ; tạo điều kiện khách quan vô cùng cần thiết cho sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế.
Do đó, chính chức năng phân phối và phân phối lại, 123doc 13 trong một chừng mực rất đáng kể, đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của Thuế. Chức năng điều tiết kinh tế của thuế. Theo chức năng này, phải xem Thuế như một tác nhân tích cực của quá trình tái phân phối và thông qua đó tác động đến quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Chức năng này không tách rời khỏi chức năng phân phối và phân phối lại của thuế, mà hai chức năng đều có quan hệ tác động hỗ tương rất chặt chẽ.
Khi sử dụng thuế với mục đích huy động một bộ phận tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào tay mình thì Nhà nước đã đặt thuế vào thế tiếp cận với các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp trên cả ba yếu tố : sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Chức năng góp phần điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Trong nền kinh tế thị trườngmột bộ phận thiểu số người giàu lên nhanh chóng và số còn lại không đạt được sự tiến bộ đáng kể nào về mức sống thậm chí nghèo hơn. Sự phát triển của một đất nước là kết quả đóng góp của các thành viên trong xã hội, nên cần thiết chia sẻ thành quả phát triển chung của xã hội cho mọi người tạo sự công bằng trong phân phối.
Do đó, Nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều hòa thu nhập thông qua 2 tác động: thuế đánh vào hàng tiêu dùng (tác động gián tiếp) và thuế đánh vào thu nhập (tác động trực tiếp). Phân loại Để phục vụ cho các mục tiêu quản lý hay nghiên cứu khác nhau, việc phân loại hệ thống thuế được thực hiện theo các tiêu thức khác nhau. Một vài cách phân loại thường thấy, như: Phân loại theo đối tượng của Thuế, hệ thống thuế bao gồm ba loại: Thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu,…là loại thuế đánh vào thu nhập của người tiêu dùng. Số thu của chúng phụ thuộc vào tổng mức tiêu dùng xã hội, tức là phụ thuộc vào GDP/người, tâm lý tiêu dùng, trạng thái phát triển kinh tế,… Sự gia tăng của chúng phản ánh sự tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng; thuế đánh vào thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,… Sự gia tăng của sắc thuế thu nhập phản ánh nền kinh tế phát triển theo 123doc 14 chiều sâu; thuế đánh vào tài sản như thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế tài nguyên… Phân loại theo tính chất kinh tế, hệ thống thuế của một quốc gia bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu.
Thuế gián thu là loại thuế gián tiếp thu vào thu nhập của người tiêu dùng thông qua hoạt động của cơ sở kinh doanh. Cơ sở kinh doanh kê khai và nộp thuế cho ngân sách Nhà nước (NSNN) nhưng gánh nặng về thuế được chuyển vào người tiêu dùng, chuyển bao nhiêu vào người tiêu dùng là tùy thuộc độ co giãn của đường cung và đường cầu về một mặt hàng cụ thể. Thuế trực thu là loại thuế mà đối tượng nộp thuế trích một phần thu nhập của chính mình để nộp cho Nhà nước. Người chịu thuế căn cứ thu nhập đạt được kê khai nộp trực tiếp vào NSNN.
Nếu thuế gián thu có nhược điểm là thuận lợi cho người có thu nhập cao thì thuế trực thu góp phần sửa chữa một phần nhược điểm đó. Các nước phát triển thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn, các nước đang phát triển thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn hơn thuế trực thu. Ở nước ta, chính sách thuế đang dần dần được điều chỉnh theo hướng tăng tỷ trọng thuế trực thu. Phân loại theo mối tương quan với thu nhập, hệ thống thuế gồm ba loại thuế lũy tiến, thuế tỷ lệ và thuế lũy thoái.
Thuế lũy tiến là sắc thuế có tỷ lệ thu ngày càng tăng theo thu nhập chịu thuế. Thuế tỷ lệ là sắc thuế mà thuế suất không thay đổi. Thuế lũy thoái là sắc thuế mà tỷ lệ thu giảm dần khi thu nhập chịu thuế tăng lên. Các nguyên tắc xây dựng hệ thống thuế Hệ thống thuế một quốc gia bao gồm nhiều sắc thuế và được xây dựng theo các nguyên tắc cơ bản sau đây: Nguyên tắc minh bạch.
Về mặt xã hội, nguyên tắc minh bạch đòi hỏi các quy định về thuế phải rõ ràng và mang tính đại chúng nhằm ngăn ngừa hiện tượng lạm thu đối với người nộp thuế, ngăn ngừa hiện tượng tham ô biển thủ thuế của nhân viên thuế, đồng thời cho thấy thái độ tôn trọng người nộp thuế của Chính phủ. Trong kinh doanh, thuế là một khoản chi phí (nghĩa vụ) nhưng đồng thời cũng có thể là một khoản ưu đãi (quyền lợi) do đó, sự rõ ràng của Thuế giúp các chủ thể 123doc 15 kinh doanh hoạch định chính xác mọi chi phí về thuế và đánh giá đầy đủ ưu đãi thuế. Từ đó, họ yên tâm sản xuất kinh doanh và mạnh dạn bỏ vốn đầu tư lâu dài. Nguyên tắc hiệu quả.
Nguyên tắc này đòi hỏi việc xây dựng mỗi sắc thuế và hệ thống thuế phải chú trọng đến hiệu quả kinh tế xã hội. Một hệ thống thuế gọi là hiệu quả khi được phát huy tối đa mọi tác dụng. Thuế là công cụ thuộc chính sách tài chính vĩ mô chứa đựng nhiều mục tiêu như tạo số thu cho NSNN; tăng cường quản lý hoạt động kinh tế xã hội, điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện; tạo hành lang cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp (DN); khuyến khích đầu tư và tiết kiệm bên trong nền kinh tế; điều tiết hợp lý thu nhập của DN và mọi tầng lớp dân cư. Tính đa mục tiêu của hệ thống thuế không đòi hỏi mỗi sắc thuế phải được xây dựng theo hướng đa mục tiêu bởi như thế sẽ cồng kềnh và kém hiệu quả, mà cần phải chuyên biệt hóa mục tiêu cho từng sắc thuế.
Hiệu quả của hệ thống thuế còn thể hiện thông qua chi phí hành thu thấp. Tiết kiệm chi phí hành thu thuế liên quan đến nhiều phương pháp hành thu. Phương pháp tương đối tiết kiệm chi phí là để người nộp thuế tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế.