CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI BUÔN LẬU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn lậu 1. Khái niệm tội buôn lậu Từ trước đến nay, tội phạm luôn là vấn đề nhức nhối của xã hội, nói về tội phạm trước hết là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Hoạt động giao thương, trao đổi, buôn bán hàng hoá xuất hiện từ lâu đời, khởi sinh từ việc của cải của các hộ cá thể trong xã hội bắt đầu có sự dư thừa, từ đó nảy sinh nhu cầu trao đổi, mua bán các loại hàng hóa, nguyên liệu,.
khác nhau giữa các chủ thể. Với sự phát triển ngày càng nhanh của nền nền kinh tế - xã hội, việc mua bán, trao đổi hàng hoá dần dần không còn chỉ giới hạn trong đơn vị lãnh thổ nhất định, mà dần được mở rộng, phát triển giữa các quốc gia, lãnh thổ khác nhau, trở thành tính chất toàn cầu, nảy sinh ra hoạt động thương mại quốc tế hay là hoạt động ngoại thương. Do đó, việc mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đặt ra các quy định để ràng buộc, áp đặt các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa trong hoạt động ngoại thương là điều tất yếu, như các quy định về thuế, loại hàng hóa được phép xuất khẩu – nhậu khẩu,…. Bên cạnh những đó, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ có những đặc điểm, lợi thế về khoáng sản, nguyên vật liệu, thực phẩm,… khác nhau, nhu cầu sử dụng mỗi loại hàng hóa khác nhau; do đó, chênh lệch về giá chính là điều mà các đối tượng nhắm tới để tìm kiếm lợi nhuận và buôn lậu sẽ là hoạt động hết sức hấp dẫn, mang lại những nguồn lợi to lớn.
Từ những lý lẽ trên, có thể nói buôn lậu là một hiện tượng xã hội tiêu cực, vi phạm các quy định pháp luật Nhà nước và pháp luật quốc tế, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật liên quan. Hiện nay, tội buôn lậu được quy định rộng rãi trong pháp luật đa số các quốc gia trên thế giới và đều có cách định nghĩa cụ thể. Công ước Quốc tế Nairobi có quy 10 định về khái niệm buôn lậu: "Buôn lậu là hành vi gian lận thương mại nhằm che giấu sự kiểm tra, kiểm soát của hải quan bằng mọi thủ đoạn, phương tiện trong việc đưa hàng hoá lén lút qua biên giới”[38] Tội buôn lậu trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới: Tội buôn lậu được quy định tại Điều 188 BLHS Liên bang Nga, theo đó, tội buôn lậu được hiểu là việc vận chuyển hàng hóa hoặc các vật phẩm khác trên quy mô lớn qua biên giới hải quan của Liên bang Nga; đưa ra ngoài ngoài hoặc nhằm che giấu sự kiểm soát của hải quan; hoặc sử dụng gian lận các tài liệu, phương tiện để lừa dối hải quan; không khai báo hoặc khai báo không chính xác quy định cụ thể về các loại hàng hóa là đối tượng của tội buôn lậu. Trong đó, các đối tượng của tội buôn lậu được thống kê ra các loại cụ thể.
Tội buôn lậu được xác định thông qua Luật số 28008 – Luật tội phạm Hải quan của Tây Ban Nha. Tại Điều 1 Luật tội phạm Hải quan quy định về tội buôn lậu: “Bất cứ ai bỏ trốn, trốn tránh hoặc vượt qua sự kiểm soát của hải quan khi nhập hàng hóa từ nước ngoài, hoặc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ quốc gia; hoặc không xuất trình để xác minh hoặc nhận diện tại cơ quan của Cơ quan quản lý hải quan hoặc ở những nơi được ủy quyền cho mục đích này, có giá trị lớn hơn bốn đơn vị thuế, sẽ bị phạt với mức án giam giữ từ năm đến tám năm, và ba trăm sáu mươi lăm đến bảy trăm ba mươi ngày phạt. Việc che giấu hoặc đánh cắp hàng hóa từ các hoạt động xác minh hoặc ghi nhận thực tế của hải quan, trong các khu vực hoặc địa điểm được phép, tương đương với việc không xuất trình.”[14] Ở Việt Nam, thuật ngữ buôn lậu được hình thành từ rất lâu và dần dần có sự hoàn thiện theo quá trình thay đổi và hoàn thiện của pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự. Ban đầu, buôn lậu được cho rằng là các hành vi buôn bán hàng cấm hoặc hàng trốn thuế.
Có thời điểm, “buôn lậu” lại được hiểu là việc "Mua bán lén lút, trái phép những hàng hoá thuộc diện Nhà nước cấm hoặc Nhà nước thống nhất quản lý"[3]. Đây là những sự nhận định đơn giản ban đầu mang tính chung nhất, chưa cụ thể, nhằm định hình cơ bản về hành vi này. 11 Tội buôn lậu được quy định Điều 188 BLHS: “Tội buôn lậu là hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000 đồng trở lên; hoặc dưới 100.000 đồng nhưng vật phạm pháp là di vật, cổ vật, hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc kết án chưa được xóa án tích về một số tội theo quy định pháp luật”[28]. Xuất phát từ những nội dung phân tích trên và quy định pháp luật hình sự về “Tội buôn lậu”, có thể đưa ra khái niệm về tội buôn lậu như sau: Tội buôn lậu là tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý bằng cáchbuôn bán trái pháp luật hàng hoá, tiền tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa Việt Nam hoặc ngược lại.
Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn lậu Từ trước đến nay, buôn lậu luôn được xác định là một trong những hành vi cần phải được tích cực phát hiện, kiểm soát và xử lý chặt chẽ do sự ảnh hưởng nghiêm trọng của hành vi này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đối với quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các doanh nhân thực hiện hoạt động kinh doanh hợp pháp và cả người tiêu dùng. Từ rất sớm trong lịch sử nước ta đã xác định buôn lậu là hành vi nguy hiểm cần ngăn chặn và đưa ra nhiều biện pháp để phòng chống vấn nạn này. Thời kỳ sau cách mạng Tháng tám 1945, trong tình trạng đất nước ta đang rơi vào nạn đói năm 1945, thực phẩm cung ứng chưa đủ nhưng tồn tại nhiều thương gia xuất khẩu lương thực ra các nước lân cận khiến cho giá cả ngày càng tăng cao. Vào ngày 9/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 45 SL-CP quy định về việc cấm xuất cảnh kho thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc để ngăn chặn tình trạng thiếu lương thực, cải thiện tình hình lương thực trong nước.
Đến ngày 30/6/1982, Hội đồng nhà nước ban hành “Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép”, quy định rõ ràng về tội buôn lậu và các hành vi được xác định là buôn lậu. Theo đó, Điều 3 của Pháp lệnh 12 quy định vềTội buôn lậu, tàng trữ hàng cấm, Điều 4 quy định về Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Theo pháp lệnh này, tội buôn lậu được gắn ghép cùng với tàng trữ hàng cấm (Điều 3) và đứng riêng với vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 4). Buôn lậu được hiểu là buôn bán trái phép hàng hoá qua biên giới, trong đó vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ, vật tư kỹ thuật hoặc các loại hàng khác mà Nhà nước cấm buôn bán.[50] Bộ luật hình sự năm 1985 có quy định cụ thể về tội buôn lậu, đánh dấu bước phát triển mới của ngành lập pháp hình sự nước ta.
BLHS năm 1985 sau khi được ban hành đã trải qua bốn lần sửa đổi bổ sung gồm năm 1989, 1991, 1992 và 1997, trong đó tội buôn lậu được quy định tại Điều 97 cùng với tội vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ qua biên giới.[19] BLHS 1999 được thông qua tại kỳ họp lần thứ VI – Quốc hội khóa X ngày 21/12/1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000. Tội buôn lậu được quy định tại Điều 153 thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, có sự quy định cụ thể về đối tượng của tội buôn lậu, bao gồm: hàng hóa, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa và hàng cấm có số lượng lớn. Mặc dù BLHS 1999 có một lần sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhưng tội buôn lậu vẫn được giữ nguyên. Với việc BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, nhiều tội phạm đã không còn tồn tại cũng như nhiều tội phạm có sự thay đổi, biến đổi lớn dẫn đến cần có sự cập nhật, hoàn thiện mới BLHS.
Do đó, ngày 27 tháng 11 năm 2015, Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 – sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015), trong đó tội buôn lậu được quy định tại Điều 188 và có sự chỉnh sửa so với Bộ luật hình sự năm 1999. Đánh giá về tội buôn lậu, BLHS này có sự thay đổi lớn so với BLHS cũ khi đối tượng tác động trước đây của tội buôn lậu là hàng cấm đã không còn được xác định mà việc buôn bán mặt hàng trên sẽ cấu thành tội buôn bán hàng cấm riêng biệt; việc buôn bán hàng cấm qua biên giới (trừ việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu) sẽ thuộc vào trường hợp cấu thành tăng nặng tội buôn bán hàng cấm 13 tại điểm k Khoản 2 Điều 190 về Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm. Quy định về “vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa” đã được thay thế bằng “Vật phạm pháp là di vật, cổ vật”, điều này nhằm xác định rõ ràng hơn về nội hàm vật buôn lậu, di vật, cổ vật được quy định trong Luật di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bên cạnh đó, về phạm vi không gian, việc buôn lậu không chỉ còn xác định là hành vi mua bán qua biên giới mà được mở rộng ra bao gồm cả việc mua bán từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại.