Chương 1: Khái quát chung về doanh nghiệp xã hội và pháp luật về doanh nghiệp xã hội. 3 Chương 2: Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp xã hội và pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hiện nay. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam. 4 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 1.
Khái quát chung về doanh nghiệp xã hội. Lược sử về sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp xã hội trên thế giới. Theo nghiên cứu của MacDonald M. (2008), mô hình doanh nghiệp xã hội đầu tiên xuất hiện tại London vào năm 1665, khi Đại dịch (Great Plague) hoành hành đã khiến nhiều gia đình giàu có, vốn là các chủ xưởng công nghiệp và cơ sở thương mại rút khỏi thành phố, để lại tình trạng thất nghiệp tăng nhanh trong nhóm dân nghèo lao động.
Trong bối cảnh đó, Thomas Firmin đã đứng ra thành lập một xí nghiệp sản xuất và sử dụng nguồn tài chính cá nhân cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để tạo và duy trì việc làm cho 1. Ngay từ khi thành lập, ông tuyên bố xí nghiệp không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và số lợi nhuận sẽ được chuyển cho các quỹ từ thiện. Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, số lượng không nhiều các doanh nghiệp xã hội ở Anh có thể được phân thành hai nhóm: (i) Một số người giàu có thay đổi quan điểm của họ trong hoạt động từ thiện. Thay cho những khoản đóng góp vật chất dễ gây nên tâm lý ỷ lại, lười biếng và “nhàn cư vi bất thiện” ở tầng lớp dân nghèo, họ chuyển sang các chương trình cung cấp việc làm để nhóm này học việc và có thể duy trì công việc cũng như thu nhập của mình, trở thành “những thành viên hữu ích của quốc gia”.
Quỹ tín dụng vi mô (chủ yếu là cho vay công cụ sản xuất) đầu tiên của nước Anh được thành lập ở Bath. Trường dạy xe sợi, dệt vải và tạo việc làm cho những người mù nghèo khổ, mô hình doanh nghiệp xã hội đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục, được mở ở Liverpool năm 1790. Trường giáo dưỡng, tái hòa nhập trẻ phạm tội của tư nhân, vốn trước đó được coi là một trong các 5 chức năng của ngành cảnh sát, đã được Nhà nước công nhận và tài trợ. Hàng loạt sáng kiến xã hội khác như đào tạo nghề đi biển, nghề mộc cho trẻ em, sử dụng nguồn thu từ các hàng cà phê cũng được ghi nhận trong thời gian này.
Đặc biệt, các dự án cung cấp nhà ở xã hội đầu tiên đã đi theo mô hình doanh nghiệp xã hội với mức lợi nhuận tối đa 5% được các nhà đầu tư chấp nhận. (ii) Xuất hiện các mô hình cho phép người lao động có nhiều quyền hơn trong ký kết hợp đồng lao động và lần đầu tiên họ có khả năng làm chủ kế hoạch kinh doanh cũng như phân phối lợi nhuận. Hợp tác xã (Co-op), hội ái hữu (Provident Society), làng nghề (Industrial Society) đã thực hiện phân phối lợi nhuận và cung cấp phúc lợi cho toàn bộ cộng đồng, cũng như trao quyền biểu quyết về quản lý tổ chức và kinh doanh cho tất cả thành viên. Ngoài ra, trên thực tế nhiều thư viện và bảo tàng ở châu Âu và Bắc Mỹ từ lâu đã có truyền thống thực hiện kinh doanh, bán hàng lưu niệm, đấu giá nhằm mục đích gây quỹ cho các lĩnh vực hoạt động chính của mình.
Mặc dù không điển hình, nhưng đây cũng có thể được coi như những hoạt động mang tinh thần doanh nhân xã hội (DNhXH) xuất hiện từ rất sớm. Họ hướng đến kinh doanh như một công cụ để tăng cường tính bền vững của tổ chức, cũng như giải pháp xã hội mà dựa vào đó tổ chức được thành lập. Sang thế kỷ 20, hoạt động của các doanh nghiệp xã hội có phần giảm sút khi chủ thuyết kinh tế Keynes lên ngôi từ sau cuộc Đại suy thoái (1929- 1933), cổ vũ cho vai trò can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế; và cũng nhờ đó, một loạt mô hình Nhà nước phúc lợi đã ra đời ở Tây Âu và Bắc Mỹ sau Thế chiến II. Các doanh nghiệp xã hội chỉ thực sự phát triển mạnh để hình thành nên một phong trào rộng khắp có diện mạo như ngày nay kể từ khi Thủ tướng Anh Margaret Thatcher lên nắm quyền, năm 1979.
Bà chủ trương thu hẹp lại vai trò của Nhà nước và cho rằng Nhà nước không nên trực tiếp tham gia cung cấp phúc lợi xã hội. Chúng ta có thể thấy, dịch vụ công và phúc lợi xã hội vốn luôn được thừa nhận rộng rãi như một trong các chức năng cơ bản của 6 Nhà nước; tuy nhiên, hiện nay chính phủ của nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ đều thực hiện chức năng này thông qua các tổ chức dân sự và tư nhân bằng hình thức đấu thầu và thuê ngoài. Quan điểm của họ cho rằng bộ máy công quyền với điểm yếu cố hữu về tính quan liêu và tham nhũng không thể đạt hiệu quả cao bằng các tổ chức dân sự và tư nhân, vốn phát triển lên từ cơ sở cộng đồng. Hơn nữa, cùng với sự lớn mạnh của xã hội dân sự, những hạn chế của Nhà nước cho thấy vai trò duy nhất của Nhà nước là không đủ để giải quyết các vấn đề xã hội đang ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ phức tạp.
Nhà nước không những phải chia sẻ trách nhiệm cung cấp phúc lợi xã hội của mình, mà còn phải coi khu vực xã hội dân sự (còn được gọi với nghĩa hẹp hơn là Khu vực thứ ba để so sánh với khu vực công và tư nhân) như một đối tác then chốt trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Trong ba thập niên trở lại đây, phong trào doanh nghiệp xã hội đã phát triển mạnh ra khỏi biên giới các quốc gia và trở thành một vận động xã hội có quy mô và tầm ảnh hưởng toàn cầu. Hiện tại không có số liệu chính xác bao nhiêu doanh nghiệp xã hội đang hoạt động tại bao nhiêu quốc gia bởi mô hình khái quát về doanh nghiệp xã hội tuy đã được công nhận thức một cách rộng rãi, nhưng đi vào nội dung, tiêu chí cụ thể để định nghĩa, phân loại doanh nghiệp xã hội lại có nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển, đặc điểm kinh tế - xã hội của từng nước, và thậm chí là mục tiêu chính sách của từng chính phủ. Mặc dù vậy, qua các tài liệu nghiên cứu, có thể nói doanh nghiệp xã hội đang hoạt động mạnh mẽ ở tất cả các khu vực trên thế giới từ Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc đến Mỹ La-tinh, Trung Đông, châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á.
Không ít quốc gia đã ban hành văn bản pháp lý riêng về doanh nghiệp xã hội và tạo lập được các mạng lưới có tổ chức để tập hợp, chia sẻ và kết nối lên tới hàng nghìn doanh nghiệp xã hội ở phạm vi trong nước cũng như quốc tế. Có thể thấy việc phong trào doanh nghiệp xã hội được thúc đẩy lan rộng một cách nhanh chóng trên thế giới trong thời gian qua là nhờ một số tác nhân chủ chốt sau đây: 7 - Một là, xu hướng toàn cầu hóa diễn ra, tạo điều kiện cho các doanh nhân xã hội kết nối, chia sẻ kiến thức, nguồn lực và nhân rộng mô hình doanh nghiệp xã hội vượt quá giới hạn biên giới quốc gia. - Hai là, các giá trị nhân văn được thức tỉnh mạnh mẽ. Đây là thời kỳ người ta nói đến xã hội hậu công nghiệp và vai trò của xã hội dân sự.
Hàng loạt cuộc vận động xã hội khác diễn ra như phong trào bảo vệ môi trường, Thương mại công bằng (Fair Trade), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR), mục tiêu thiên niên kỷ, chỉ số phát triển con người. - Ba là, sự xuất hiện của những nhà đầu tư xã hội (social impact investors) tìm kiếm tác động xã hội thay cho lợi nhuận tài chính truyền thống. Họ tạo thành các mạng lưới liên quốc gia, tập hợp, chia sẻ và hỗ trợ các doanh nghiệp xã hội trên phạm vi toàn cầu. Điều này đặc biệt có lợi cho sự phát triển doanh nghiệp xã hội ở các nước đang phát triển, vốn có nhu cầu lớn về vốn và nâng cao năng lực.
[16] Thực tế cho thấy, doanh nghiệp xã hội có lịch sử phát triển lâu đời, bắt đầu từ thế kỷ 17 ở Vương Quốc Anh. Trong hơn ba thế kỷ, rất nhiều mô hình doanh nghiệp xã hội đã được thực hiện như: nhà ở xã hội, nhóm tự lực, dạy nghề và tạo việc làm, thương mại công bằng, hay như các hoạt động tạo thu nhập cho các tổ chức từ thiện, tài chính vi mô, và cung cấp dịch vụ công qua các hợp đồng với chính quyền. Doanh nghiệp xã hội ở Vương Quốc Anh cũng hoạt động dưới rất nhiều hình thức tổ chức và địa vị pháp lý đa dạng, bao gồm: các công ty vì lợi ích cộng đồng, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, quỹ tín dụng, nhánh kinh doanh của các tổ chức từ thiện phi lợi nhuận, doanh nghiệp do người làm thuê tự chủ, hợp tác xã, quỹ phát triển, liên hiệp nhà ở, công ty xã hội và các quỹ ủy thác. Theo một điều tra của Cơ quan doanh nghiệp xã hội Vương Quốc Anh năm 2015, hiện có khoảng 70.000 doanh nghiệp xã hội đóng góp 24 tỷ bảng Anh cho nền kinh tế và tạo việc làm cho gần một triệu người tại Vương Quốc Anh.
Phần lớn doanh thu 8 của các doanh nghiệp xã hội là từ các hoạt động thương mại (chiếm 73%). Xu thế cũng cho thấy, các tổ chức phi chính phủ (NGO) truyền thống đang dần chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, mặc dù nền kinh tế Phi-líp-pin đã đạt được một số thành tựu về tốc độ tăng trưởng GDP, nhưng tình hình kinh tế - xã hội vẫn gặp phải một số khó khăn như thiên tai, thất nghiệp, tỷ lệ đói nghèo cao. Để góp phần hồ trợ Chính phủ giải quyết các vấn đề xã hội này, bên cạnh mô hình doanh nghiệp xã hội truyền thống như tổ chức phi chính phủ, quỹ từ thiện.
một bộ phận doanh nhân có tâm huyết và có trách nhiệm xã hội đứng ra thành lập các doanh nghiệp xã hội theo mô hình doanh nghiệp với kỳ vọng dùng lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp đầu tư, hỗ trợ người dân nhằm giảm nghèo bền vững.