Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT LY HON THEO YÊU CÂU CUA MOT BEN 1. Khái quát chung lý luận về giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên 1. Khái niệm giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên 11. Khái niệm ly hôn Khái niệm hôn nhân chứa đựng trong đó hai phạm trù đối lập (kết hôn và ly hôn).
Trong khi kết hôn được coi là một hiện tượng xã hội thông thường, đồng nghĩa với việc lập mối quan hệ vợ chồng chính thức trước cơ quan nha nước có thâm quyền, dựa trên sự đồng ý tự nguyện của hai bên, thì ly hôn, theo hướng ngược lại, phản ánh sự bất thường của hôn nhân và là “một hiện tượng xã hội mang ý nghĩa chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng trước pháp luật” [11, tr. Vì vậy, ly hôn có thể được xem như một mặt quan trọng của quan hệ hôn nhân.Mác và Ăngghen đã chỉ ra những mâu thuẫn mang tính nội tại trong gia đình và những sự đối lập trong một gia đình là không thê tránh khỏi, bởi lẽ “Sự đối lập giai cap đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là trùng với sự phát triển của sự đối kháng giữa chồng và vợ trong hôn nhân cá thé, và sự áp bức giai cấp đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà” [19, tr.Mác và Angghen cũng cho rang “Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cô những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những co sở duy nhất có thé có và vững chắc trong một xã hội văn minh” [21, tr. Bởi vậy, hệ thống pháp luật về HN&GD luôn công nhận và tôn trọng quyền chính đáng của mỗi bên vợ chồng khi quyết định ly hôn, và việc giải quyết này tuân theo trình tự và thủ tục được quy định bởi luật pháp. 10 Ở góc độ quyền con người, ly hôn được coi là một quyền cơ bản của cá nhân và là một phần trong quyền dân sự của con người.
Tại Điều 23 trong Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) ghi nhận quyền kết hôn là một quyền cơ bản của công dân và được pháp luật thừa nhận [9]. Từ góc độ này, ly hôn cũng được coi là một quyền cơ bản trong lĩnh vực dân sự của con người, đặc biệt khi nó chỉ được thực hiện khi đã có một mối quan hệ hôn nhân xuất phát trước đó. Giống như việc kết hôn, việc ly hôn cũng cần được thực hiện dựa trên sự đồng tình tự nguyện và không bị áp đặt. Theo Từ điển Tiếng Việt “Ly hôn là vợ chồng bỏ nhau” [20, tr.
1057], có thể thấy, đây là cách hiểu thông thường trong xã hội song nó không hàm chứa tính pháp lý của ly hôn. Từ điển Luật học lại đưa ra định nghĩa như sau: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng” [55]. Theo đó, ly hôn là sự kiện pháp lý đại diện cho việc cham dứt quan hệ vợ chồng. Ở Việt Nam, ly hôn là quyền tự do cá nhân của vợ hoặc chồng [9, tr.
Khả năng thực hiện quyền này là rất quan trọng đối với cá nhân, gia đình và xã hội. Các hạn chế về quyền ly hôn của công dân được coi là hành vi phi đạo đức. Nhà nước bảo vệ quyền tự do kết hôn thông qua việc ban hành các quy định pháp luật không ép buộc việc kết hôn của công dân. Do đó, Nhà nước cũng không có thâm quyền buộc các cặp vợ chồng duy trì mối quan hệ hôn nhân không lành mạnh tuy nhiên phải đảm bảo rằng việc chấm dứt mối quan hệ này diễn ra theo quy định pháp luật.
Ở góc độ pháp lý, khoản 1, Điều 36 của Hiến pháp năm 2013 quy định “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn” [30]. Theo Luật HN&GD năm 2014 thì khái niệm ly hôn được hiểu là “việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” [31]. Có thé thấy, khái niệm nêu trên tuy ngắn gon song đã đưa ra được đầy đủ ý nghĩa pháp lý trên cơ sở những nguyên tắc đảm bảo quyền tự 11 do cá nhân và quyền ly hôn được thực thi bởi pháp luật. Điều này cho thấy, pháp luật Việt Nam thừa nhận quyền tự do ly hôn chính đáng và tự nguyện của vợ chồng, không cấm đoán và thiết lập các hạn chế đối với tự do ly hôn.
Trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến ly hôn, Tòa án là cơ quan có thâm quyền để giải quyết các vấn đề liên quan đến ly hôn. Từ những phân tích nêu trên có thé rút ra định nghĩa ly hôn như sau: “Ly hôn là sự kiện pháp lý làm cham dứt quan hệ vợ chong do cơ quan nhà nước có thẩm quyên quyết định, khi có yêu câu của các chủ thể có quyên yêu cau trên cơ sở căn cứ giải quyết ly hôn được pháp luật quy định. Khái niệm giải quyết ly hôn theo yêu cau của một bên Ly hôn đơn phương, còn được gọi là ly hôn theo yêu cầu của một bên, là tình huống khi một trong hai bên trong mối quan hệ vợ chồng nộp đơn ly hôn yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ hôn nhân với bên còn lại. Một mối quan hệ hôn nhân được cham dứt dựa trên hai khác nhau đó 1a: đồng thuận và đơn phương.
Trong trường hợp đồng thuận, cả hai bên trong mối quan hệ cảm thay rằng cuộc sống hôn nhân không còn khả thi và đồng tình rằng việc cham dứt quan hệ là cần thiết. Họ sẽ cùng nhau yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, điều này thường được thê hiện qua việc ký vào đơn yêu cau giải quyết việc ly hôn từ cả hai bên vợ chồng. Ngoài ra, trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng cảm thấy rằng mối quan hệ hôn nhân không thê tiếp tục, nhưng đối phương không đồng ý với việc cham dứt do lý do khách quan hoặc chủ quan. Trong tình huống này, khi một bên cảm thấy không thé tiếp tục cuộc sống hôn nhân, họ có thé yêu cầu ly hôn mà không cần sự đồng thuận từ bên kia.
Tòa án sẽ xem xét các cơ sở dé quyết định việc ly hôn theo yêu cầu của một bên. Hậu quả của việc ly hôn có anh hưởng đáng kê đến những cá nhân có liên quan, bao gôm cả bên vợ, bên chông, con cái và người thân thích. Vì vậy, 12 việc tiến hành ly hôn không thể được thực hiện một cách tùy tiện mà phải dưới sự kiểm soát chặt chẽ từ phía nhà nước. Theo đó, nhà nước đã trao quyền cho Tòa án - đại diện giải quyết yêu cầu ly hôn.
Tòa án đóng vai trò quan trọng và là cơ quan duy nhất có thâm quyền dé xem xét và giải quyết yêu cầu ly hôn. Tham quyên này của Tòa án đã được quy định rõ ràng trong Luật HN&GD năm 2014, cụ thé là “Vo chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” [31]. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin dựa trên quyền tự do kết hôn của nam và nữ để tạo ra quan hệ vợ chồng, cũng như quyền tự do ly hôn của vợ chồng dé kết thúc mối quan hệ này theo bản chất của sự kiện - đó là hôn nhân “đã chết” [25, tr.5], sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối. Đương nhiên, không phải là ý chí của những nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của cá nhân; thay vào đó, bản chất của sự kiện mới quyết định liệu cuộc sống hôn nhân này đã “chết” hay chưa.
Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện bản chất của mối quan hệ, theo đó những trường hợp nào về mặt pháp lý hôn nhân được coi là tan vỡ nghĩa là về thực chất, hôn nhân tự nó đã phá vỡ và việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ là việc ghi biên bản công nhận sự tan vỡ bên trong của nó và chỉ khi nào hôn nhân xét về bản chất không còn là hôn nhân nữa, Tòa án mới được xử cho ly hôn. Từ các phân tích nêu trên có thể hiểu ly hôn theo yêu cầu của một bên: là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo một bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, được thực hiện khi một trong hai bên vợ hoặc chong, hodc cdc chu thé khác được pháp luật quy định, yêu cầu cham dứt quan hệ hôn nhân, khi có cơ sở pháp lý dé giải quyết việc ly hôn, nhằm giải quyết các vấn dé phát sinh từ hậu quả của việc ly hôn mà các bên vợ chỗng không thể thỏa thuận được. Nhận thay rang, các quan hệ liên quan đến HN&GD đều bắt nguồn từ ý chí tự nguyện của các bên, tương tự như trong các mối quan hệ dân sự thông 13 thường giữa các cá nhân. Vì vậy, pháp luật dân sự, đặc biệt là Bộ Luật TTDS năm 2015, đã có quan điểm rõ ràng và bao quát vụ việc dân sự.
Theo đó, vụ việc dân sự bao gồm cả vụ án dân sự và việc dân sự. Vụ án dân sự áp dụng cho các tranh chấp giữa cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, HN&GD, kinh doanh thương mai, và lao động. Các vụ án này được đưa ra Tòa án để được giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS. Theo tinh thần đó, khi nêu đối chiếu với quan hệ HN&GD, yêu cầu ly hôn của một bên được hiểu là một tình huống khi hai bên không cùng thuận tình về việc ly hôn, và có sự mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ về van đề nảy.
Do đó, yêu cầu ly hôn của một bên được xem là một vụ án dân sự và quá trình giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên được thực hiện qua các thủ tục TTDS. Do đó, yêu cầu ly hôn của một bên thường được gọi là “vụ án ly hôn” và với việc tiếp cận thực hiện quy trình giải quyết, nó thường được xem xét dưới góc độ tên gọi này.