CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CUA PHÁP LUAT VE BAO VE LAO DONG CHUA THANH NIEN 1. Một số van đề lý luận về bảo vệ lao động chưa thành niên 1. Khái niệm, đặc điểm lao động chưa thành niên và bảo vệ lao động chưa thành niên 1. Khái niệm người chưa thành niên, lao động chưa thành viên * Khái niệm người chưa thành niên Khi nói về LĐCTN có nhiều cách gọi khác nhau, trong các Công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không sử dụng thuật ngữ LĐCTN mà sử dụng thuật ngữ “lao động trẻ em” (child labour) như các Công ước mà Việt Nam đều đã tham gia như: Công ước số 138 năm 1973 về độ tuổi lao động tối thiểu (Công ước số 138) và Công ước số 182 năm 1999 về cam và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (Công ước 182).
Các công ước trên cũng không đưa ra định nghĩa về lao động trẻ em, nhưng xác định phạm vi công ước áp dụng cho trẻ em là tất cả những người dưới 18 tuổi [15, Điều 2]. Bên cạnh đó, Điều 3 Công ước 138 quy định độ tuổi tối thiểu quy định trong pháp luật quốc gia không được dưới 15 tuổi hay không được thấp hơn độ tuôi giáo dục bắt buộc. Đề làm rõ hơn khái niệm LĐCTN, ngoài cách tiếp cận dưới góc độ lao động trẻ em, cần xác định NCTN có đồng nhất với cách hiểu trẻ em hay không. Trẻ em theo Điều | Công ước quốc tế về các quyền của trẻ em (CRC) được hiểu là người dưới 18 tuôi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định dưới tuổi thành niên sớm hơn.
Trong Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 nêu: "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn dưới tuổi này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyên tự do của người chưa thành niên” [17]. Tại châu Au sử dụng thuật ngữ “trẻ em” và xác định là người dưới 18 tuổi, ngoại trừ đối với Scotland, trẻ em là người đưới 16 tuổi [12]. Như vậy, các Công ước quốc tế khi đưa ra khái niệm về trẻ em đều lẫy tiêu chí về độ tuổi dé xác định độ tuổi.
Khái niệm NCTN được trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi, theo đó NCTN là người dưới 18 tuổi. Đồng thời, các quy định trên để mở cho các quốc gia có thể quy định thấp hoặc cao hơn mức tran là 18 tuổi đối với LĐCTN [20, tr. Tại Việt Nam, trẻ em và NCTN là hai khái niệm không đồng nhất, theo quy định tại Điều 1 Luật Trẻ em 2016 thì trẻ em là người dưới 16 tuổi, nhưng khoản | Điều 20 Bộ luật dân sự 2015 lại cho răng người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Vì vậy, có thé hiểu NCTN là người chưa đủ 18 tuổi [30, Điều 21.
* Khái niệm về lao động chưa thành niên Trong pháp luật quốc tế, lao động trẻ em được nhận diện thông qua các tiêu chí về độ tuổi theo hai công ước của ILO là Công ước số 138 về tuôi lao động tối thiêu năm 1973, Công ước số 182 về nghiêm cắm và hành động khan cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999. Có cách hiểu về lao động trẻ em “là người làm công việc làm mất đi tuổi thơ, tiềm năng và nhân cách, và có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển về thé chat và tinh than của trẻ, bao gồm cả việc cản trở khả năng đến trường” [22, tr. Tổ chức ILO đưa ra định nghĩa về lao động trẻ em “Lao động trẻ em được hiểu là trẻ em và người chưa thành niên làm các công việc trái quy định pháp luật về lao động, tham gia lao động mà hoạt động lao động đó cản trở hoặc tác động tiêu cực đến sự phát triển thê chất, trí tuệ, nhân cách và sự phát triển toàn diện của các em” [39]. Cách tiếp cận theo nghĩa hẹp của ILO khi nói về lao động trẻ em băng việc đưa cụm từ “lao động” trước đối tượng “trẻ em” dé dé cap dén trang thái của một người dưới 18 tuôi phải làm một loại công việc trái với quy định pháp luật, có tác động tiêu cực đối với bản thân trẻ em.
Vì thế cách tiếp cận này sẽ gắn liền với cụm từ “xóa bỏ lao động trẻ em”. Vì vậy, không nên nhằm lẫn thuật ngữ “lao động trẻ em” với các thuật ngữ “việc làm cho NCTN” hay “lao động chưa thành niên” tiếp cận dưới góc độ người dưới 18 tuôi tham gia quan hệ lao động được pháp luật cho phép. Pháp luật lao động Việt Nam không đưa ra khái niệm về lao động trẻ em mà đưa ra cách hiểu là người lao động chưa thành niên. Cách hiểu về “người lao động chưa thành niên” được đưa ra lần đầu trong BLLD 1994 dé chi những người chưa phat triển đây đủ về thé chat, tinh than tham gia lao động.
Sau đó BLLĐ năm 2012 ấn định độ tuôi “người lao động chưa thành niên là người lao động đưới 18 tuổi” [26, Điều 161]. Đến BLLĐ 2019 cũng xác định LĐCTN dựa trên độ tuổi của người lao động (NLĐ) nhưng có quy định khác nhau về thời điểm tính tuổi, và thay vì gọi là “người lao động chưa thành niên” bằng “lao động chưa thành niên”, theo đó “lao động chưa thành niên là người lao động cha đủ 18 tuôi” [31, Điều 143]. Đây là cách tiếp cận mới của BLLD năm 2019 khi so sánh với BLLD năm 2012 về xác định mốc thời gian của một người được coi là LĐCTN. Cách quy định của BLLD năm 2019 thống nhất với quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 về người chưa thành niên là người cha du 18 tuổi [30, Điều 21].
Nhưng BLLĐ năm 2012 sử dụng cụm từ “đưới 18 tuổi” phù hợp hơn với quy định của Công ước về quyền trẻ em năm 1989 và Công ước số 182. Cũng có tác giả đưa ra cách hiểu về LDCTN là người lao động có đặc điểm riêng, gồm những người dưới 18 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động [35, tr. Khái niệm nay đã nhấn mạnh giới hạn tối đa về độ tuổi của LĐCTN nhằm phân biệt với NLD thành niên; khả năng lao động nhằm phân biệt với NLĐ không có khả năng lao động; và khả năng giao kết HDLD (phải tham gia vào quan hệ lao động thông qua hình thức HĐLĐ). Cách hiểu trên cũng được thé hiện qua nghiên cứu của tác giả 10 Nguyễn Thị Thanh Thủy trong luận văn tại Trường Đại học Luật khi xác định “Người lao động chưa thành viên là người lao động có đặc điểm riêng, gồm những người dưới 18 tuổi có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” [32, tr.
Luận văn tiếp cận LDCTN chỉ nhóm người dưới 18 tuổi làm việc theo các HDLD, nhưng do đặc điểm của LĐCTN nên họ chỉ có thé thực hiện được các công việc hoặc làm các nghề theo điều kiện lao động nhất định, nhằm đảm bao sự phát triển đầy đủ về thé chat và tinh thần của LDCTN. Vì vậy có thê hiểu /zo động chưa thành niên là những người lao động dưới 18 tuổi tham gia quan hệ lao động để làm những công việc mà pháp luật quy định. Cách hiểu này bao quát cả nội hàm về: độ tuổi của NLD được gọi la LDCTN; việc được phép làm bao gồm trong đó năng lực chủ thé của LĐCTN và những công việc trong danh mục LDCTN được làm va không bị cắm. Đặc điểm của lao động chưa thành niên Lao động chưa thành niên là nhóm lao động có đặc thù, có những đặc điểm riêng mà pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia rất chú trọng trong việc bảo vệ LĐCTN, cụ thé: Một là, LĐCTN là người dưới 18 tuổi chưa phát triển toàn diện về sinh lý.
Người đủ 18 tuổi là người được coi là có sự phát triển toàn diện, đầy đủ về thể chất và sinh lý. Người dưới 18 tuổi thì các hệ cơ, xương, bắp là những yếu tố ảnh hưởng đến cường độ lao động, loại công việc có thể làm vẫn đang trong giai đoạn định hình và chưa có sự ôn định. Nếu phải lao động với cường độ quá sức, hoặc làm việc nhiều giờ rất dễ xảy ra tại nạn lao động, bệnh tật. sẽ ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển thê chất và trí tuệ của NCTN.
Hai la, LĐCTN chưa phát triển toàn diện về nhân cách, dé thay đổi và chịu ảnh hưởng của môi trường sống, môi trường lao động [8, tr. Với đặc điểm này thì việc tạo môi trường lao động cho LĐCTN có vai trò quan trọng trong việc tác động tích cực đên sự phát triên vê nhân cách, tạo ra môi quan 11 hệ xã hội lành mạnh, độc lập và biết bảo vệ bản thân trước những nguy cơ bị xâm hại, bị bóc lột sức lao động. Cùng với đó là những lo ngại khi LĐCTN làm việc tại môi trường nhạy cảm như tại quán Karaoke hay cơ sở dịch vụ matxa, chợ đầu mối. sẽ dé ảnh hưởng xấu đến tính cách và tư duy của LĐCTN, và thậm chí là cả sự hình thành sau này về hướng phát triển sự nghiệp và quan điểm sống.
Ba là, LĐCTN là người chưa có kinh nghiệm, chưa nhận thức rõ quyên và nghĩa vụ cua mình trong quan hệ lao động nên kha năng tự bảo vệ chưa cao. Do LĐCTN chưa phát triển đầy đủ về trí tuệ và tâm sinh lý, và do số tuổi còn trẻ, kinh nghiệm tích lũy qua quá trình lao động thiếu, nhóm lao động này chưa được đào tạo dé làm công việc có tính chuyên môn cũng như tạo ra sản phẩm có giá trị cao. Vì vậy, NCTN khi có nhu cầu cần tìm việc làm sẽ dé trở thành nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị xâm hại, bị lợi dụng, dụ dỗ, bóc lột lao động. Vì vậy, pháp luật lao động tại các quốc gia đều quy định chặt chẽ các van đề liên quan đến việc tuyển dụng và sử dụng LDCTN.
Bon là, LDCTN là người bị hạn chế một phan năng lực hành vi khi giao kết hợp đông. LĐCTN được xác định là những người có năng lực pháp luật không day đủ. Vì vậy, khi tham gia quan hệ lao động, LĐCTN chỉ được ký kết HDLD với vị trí công việc nhẹ nhàng, đơn giản, liên quan đến năng khiếu, không ảnh hưởng đến việc học tập và sự phát triển về thể chất của LĐCTN.