CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm hợp đồng lao động Khái niệm hợp đồng lao động ở Việt Nam ra đời khá sớm. Ngay sau khi đất nước ta giành được độc lập năm 1945 cùng với quá trình khôi phục và phát triển đất nước thì vấn đề sửa đổi pháp luật cũng được diễn ra hết sức khẩn chương.
Ngày 12 tháng 3 năm 1947 Sắc lệnh 29 sắc lệnh đầu tiên về vấn đề lao động của nước ta sau khi độc lập đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thông qua. Trong sắc lệnh này vấn đề hợp đồng lao động được đề cập đến trong Chương thứ 3 Khế ước làm công, trong phần chương này đã quy định rõ những loại hợp đồng lao động, những công việc được thỏa thuận, tiền công, các khoản phụ cấp, tuổi làm việc và thời gian làm việc. Những điều này phải được các bên áp dụng không được vi phạm để đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Có thể thấy ngay từ đầu nhà nước ta đã quan tâm đến người lao động.
Sau khi đất nước được thống nhất thì pháp luật cũng có những thay đổi cho phù hợp. Trong thông tư 01/LĐ-TBXH ngày 9 tháng 1 năm 1988 hướng dẫn thực hiện Quyết định 217/HĐBT Hội đồng bộ trưởng ngày 14 tháng 11 năm 1987 về lao động tiền lương và xã hội. Trong thông tư này khái niệm “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa giám đốc xí nghiệp và người lao động về nghĩa vụ và quyền lợi, về trách nhiệm và quyền hạn của hai bên trong quá trình lao động do giám đốc và người lao động ký kết theo mẫu đính kèm Thông tư này”. Trong thông tư này nêu rõ hợp đồng lao động chỉ có một loại là bằng văn bản và được ký giữa giám đốc và người lao động.
Thông tư 01/1988/LĐ-TBXH chỉ tồn tại có vẻn vẹn hai năm và được thay đổi bằng Pháp lệnh về hợp đồng lao động của Hội đồng nhà nước. Pháp lệnh ra đời nhằm thích ứng với nền kinh tế thị trường từng bước mở cửa thay 5 Luan van cho nền kinh tế quan liêu tập trung bao cấp. Trong Pháp lệnh đầu tiên dành riêng cho hợp đồng lao động đã nêu trọn vẹn những vấn đề trong quan hệ lao động và cách thức điều chỉnh. Pháp lệnh là bước đầu tiên mở đường cho sự ghi nhận quan hệ lao động trong thời kỳ đổi mới bình đẳng cạnh tranh lành mạnh.
Tại Điều 1 Pháp lệnh nêu rõ “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người sử dụng, thuê mướn lao động (gọi chung là người lao động), về việc làm có trả công, mà hai bên cam kết với nhau về điều kiện sử dụng lao động và điều kiện lao động, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Pháp lệnh lao động năm 1990 cũng chỉ tồn tại được có bốn năm thì đã được thay đổi bằng Bộ luật lao động đầu tiên của nước ta là Bộ luật lao động năm 1994. Nguyên nhân của sự thay đổi này là do tình hình kinh tế khu vực có nhiều thay đổi làm cho pháp luật phải thay đổi để phù hợp với xu thế và đi đầu là sự thay đổi của Hiến pháp năm 1992 đã làm các luật khác phải sửa đổi cho phù hợp. Bộ luật Lao động năm 1994 quy định về hợp đồng lao động trong Chương 4 Điều 26 theo đó “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.
Bộ luật Lao động năm 1994 từ khi ra đời đến nay là Bộ luật có tuổi đời dài nhất và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 nhằm phù hợp với tình hình hội nhập kinh tế sâu rộng. Nhưng sửa đổi vẫn chưa thể khắc phục hết những hạn chế. Do đó tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động năm 2012 thay thế cho Bộ luật lao động năm 1994. Trong Bộ luật Lao động năm 2012 tại Điều 15 quy định “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.
Tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển xu hướng phát triển của nền công nghiệp 4.0 đã tác động mạnh đến các ngành kinh tế và do đó cũng tác 6 Luan van động trực tiếp tới người lao động. Nhận thấy cần phải thay đổi cho phù hợp và tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động thì tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Bộ luật Lao động năm 2019 ngày 20 tháng 11 năm 2019 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021. Trong thay đổi lần này hợp đồng lao động đã có những thay đổi căn bản, cụ thể hợp đồng lao động được quy định tại Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019. “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động”. Như vậy, về cơ bản Bộ luật Lao động 2019 cũng xác định hợp đồng lao động về bản chất là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về các vấn đề như việc làm, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Ngoài ra, Bộ luật Lao động 2019 không chỉ thừa nhận những thỏa thuận về việc làm có trả lương mới là HĐLĐ mà cả những trường hợp việc làm có trả công cũng sẽ được xác định là hợp đồng lao động. Việc nhận diện HĐLĐ không chỉ căn cứ vào hình thức, tên gọi của hợp đồng mà quan trọng là phải xem xét bản chất của mối quan hệ.
Để xác định một hợp đồng có phải là hợp đồng lao động hay không, không nhất thiết phải dựa vào tên gọi của hợp đồng. Nếu hợp đồng đó có tên gọi khác nhưng nội dung của nó thể hiện “việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên” thì vẫn xác định là hợp đồng lao động và phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Lao động. Khái niệm giao kết hợp đồng lao động Giao kết HĐLĐ là cơ sở hình thành quan hệ pháp luật lao động giữa NLĐ và NSDLĐ. Quan hệ lao động có được hài hòa, ổn định trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, việc thực hiện hay chấm dứt hợp đồng lao động, quyền và lợi ích của các bên có được bảo đảm hay không phụ thuộc rất lớn vào việc giao kết HĐLĐ.
HĐLĐ là một dạng của hợp đồng nên để xác định giao kết hợp đồng lao động là gì phải xuất phát từ khái niệm giao kết hợp đồng. Theo Từ điển Luật học (Nhà xuất bản Tư pháp - 2006), giao kết hợp đồng được xác định là việc: “Các bên bày tỏ ý chí về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng trên cơ sở tuân theo các nguyên tắc do pháp luật quy định”. Như vậy, giao kết hợp đồng lao động được hiểu là việc NLĐ và NSDLĐ bày tỏ việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng lao động trên cơ sở tuân theo các nguyên tắc do pháp luật quy định. Khái niệm thực hiện hợp đồng lao động Theo Từ điển Luật học,“Thực hiện hợp đồng là những hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng nhằm làm cho các điều khoản, nội dung đã cam kết trong hợp đồng trở thành hiện thực”.
Thực hiện hợp đồng chính là sự tiếp nối có tính tất yếu trong quan hệ khi các bên đã giao kết hợp đồng, là quá trình các bên thực hiện các hành vi để hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của mình đã thỏa thuận trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật. Như vậy, thực hiện hợp đồng lao động hành vi pháp lý của hai bên nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã cam kết trong HĐLĐ. Vai trò của hợp đồng lao động Trong quá trình thực hiện các công việc đều sẽ có các cách thức vận hành và quản lý khác nhau nhưng nó phải đảm bảo phù hợp với tính chất công việc, giúp công việc hoàn thành một cách tốt nhất đạt hiệu quả cao nhất. Hợp đồng lao động chính là sự hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của các bên.
Trong lĩnh 8 Luan van vực lao động cũng vậy, người sử dụng lao động có quyền quản lý người lao động trên cơ sở những nội dung đã giao kết trong HĐLĐ, trên cơ sở nội quy, quy định của pháp luật. Đồng thời khi tham gia vào lĩnh vực lao động các bên đồng thời chịu sự quản lý của nhà nước. Chính vì vậy, HĐLĐ trước hết là cơ sở quan trọng để NSDLĐ thực hiện quyền tự chủ trong việc tuyển chọn, sử dụng và quản lý NLĐ phù hợp với yêu cầu của mình trên cơ sở quy định của pháp luật. Đồng thời HĐLĐ cũng là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để NLĐ thực hiện quyền tự do làm việc, tự do lựa chọn việc làm cũng như nơi làm việc.
Vì vậy, HĐLĐ đóng vai trò rất lớn trong quan hệ pháp luật lao động. Thứ nhất, HĐLĐ là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động giữa NLĐ và NSDLĐ, ghi nhận những cam kết, cho việc thực hiện và đảm bảo các quyền, nghĩa vụ của các bên, thể hiện ý chí của các bên, sự bình đẳng, tự do của người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình xác lập và duy trì mối quan hệ lao động. Thứ hai, HĐLĐ là cơ sở để NSDLĐ thực hiện quyền quản lý lao động. Khi tham gia quan hệ pháp luật lao động, NLĐ chịu sự phụ thuộc pháp lý với NSDLĐ.
Trong quan hệ này NSDLĐ trở thành chủ thể quản lý và NLĐ trở thành đối tượng bị quản lý. Thứ ba, HĐLĐ là cơ sở để hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật lao động. HĐLĐ được coi như hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật lao động.