Luận văn tốt nghiệp giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật việt trường thành

Luận văn tốt nghiệp kỹ thuật nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại công ty cổ phần thương mại và dịch, điều tra thực trạng, phân tích số liệu,

Chuyên ngành

Pháp luật hành chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

56
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.2. Khái niệm hợp đồng lao động

1.3. Khái niệm giao kết hợp đồng lao động

1.4. Khái niệm thực hiện hợp đồng lao động

1.5. Vai trò của hợp đồng lao động

1.6. Pháp luật về giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

1.7. Chủ thể giao kết

1.8. Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động

1.9. Loại hợp đồng, hình thức hợp đồng

1.10. Nội dung của hợp đồng lao động

1.11. Các trường hợp sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hợp đồng lao động

1.12. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT VIỆT TRƯỜNG THÀNH

2.1. Khái quát về Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Việt Trường Thành

2.2. Giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Việt Trường Thành

2.3. Chủ thể giao kết hợp đồng lao động

2.4. Nguyên tắc giao kết hợp đồng động

2.5. Loại hợp đồng và hình thức của hợp đồng lao động

2.6. Nội dung hợp đồng

2.7. Về thời gian thử việc

2.8. Công việc và địa điểm làm việc

2.9. Thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

2.10. Về tiền lương, thu nhập và BHXH, BHYT, BHTN

2.11. Về đồ dùng dụng cụ, trang thiết bị, bảo hộ lao động

2.12. Về đào tạo, bồi dưỡng NLĐ

2.13. Về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất

2.14. Về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động

2.15. Về tham gia tổ chức bảo vệ người lao động

2.16. Những thỏa thuận khác trong HĐLĐ giữa NLĐ và NSDLĐ

2.17. Đánh giá thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng lao động của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Việt Trường Thành

2.18. Ưu điểm và hạn chế trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Việt Trường Thành

2.18.1. Ưu điểm trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Việt Trường Thành

2.18.2. Hạn chế trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Việt Trường Thành

2.19. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Việt Trường Thành

2.19.1. Nguyên nhân khách quan

2.19.2. Nguyên nhân chủ quan

2.20. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT VIỆT TRƯỜNG THÀNH

3.1. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, hoạt động của doanh nghiệp

3.2. Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật lao động cho công ty và người lao động

3.3. Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp để hỗ trợ cho công ty cũng như NLĐ trong giai đoạn ảnh hưởng dịch bệnh covid-19 hiện nay

3.4. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các bên trong thực hiện các quy định pháp luật về lao động

3.4.1. Đối với người sử dụng lao động

3.4.2. Đối với người lao động

3.5. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là một trong những yếu tố quan trọng trong quan hệ lao động tại Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Việt Trường Thành. Hợp đồng lao động không chỉ là văn bản pháp lý mà còn là sự thỏa thuận giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên. Theo quy định của pháp luật, hợp đồng lao động phải được ký kết bằng văn bản và có nội dung rõ ràng về công việc, thời gian làm việc, tiền lương và các chế độ phúc lợi khác. Việc giao kết hợp đồng lao động không chỉ đảm bảo quyền lợi cho NLĐ mà còn giúp NSDLĐ quản lý và điều hành công việc hiệu quả hơn. Điều này thể hiện rõ trong các quy định của Bộ luật Lao động hiện hành, nơi mà hợp đồng lao động được coi là nền tảng cho mọi hoạt động lao động trong doanh nghiệp.

1.1. Khái niệm hợp đồng lao động

Khái niệm hợp đồng lao động đã được quy định rõ ràng trong Bộ luật Lao động năm 2019. Theo đó, hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả công, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Hợp đồng lao động có thể được phân loại thành nhiều loại khác nhau như hợp đồng xác định thời hạn, hợp đồng không xác định thời hạn, và hợp đồng theo mùa vụ. Mỗi loại hợp đồng có những đặc điểm và quy định riêng, ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Việc hiểu rõ về các loại hợp đồng lao động sẽ giúp NLĐ và NSDLĐ có những quyết định đúng đắn trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng.

II. Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty

Tại Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Việt Trường Thành, việc giao kết hợp đồng lao động diễn ra theo quy trình nhất định, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn tồn tại một số vấn đề trong quá trình thực hiện hợp đồng. Một số NLĐ chưa nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, dẫn đến việc không thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ mà còn gây khó khăn cho NSDLĐ trong việc quản lý nhân sự. Để khắc phục tình trạng này, công ty cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho NLĐ, giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động.

2.1. Đánh giá thực trạng giao kết hợp đồng

Đánh giá thực trạng giao kết hợp đồng lao động tại Công ty cho thấy rằng, mặc dù công ty đã thực hiện đúng quy trình giao kết hợp đồng, nhưng vẫn còn một số hạn chế. Nhiều NLĐ chưa được đào tạo đầy đủ về các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng lao động, dẫn đến việc họ không thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả. Hơn nữa, một số hợp đồng lao động vẫn còn thiếu sót về nội dung, không rõ ràng về các điều khoản liên quan đến tiền lương, thời gian làm việc và các chế độ phúc lợi khác. Điều này cần được khắc phục để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ và tạo điều kiện thuận lợi cho NSDLĐ trong việc quản lý nhân sự.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng lao động

Để nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Việt Trường Thành, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, công ty cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cho NLĐ về các quy định pháp luật lao động, giúp họ hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Thứ hai, công ty nên xây dựng một hệ thống quản lý hợp đồng lao động chặt chẽ, đảm bảo mọi hợp đồng đều được ký kết và lưu trữ đầy đủ. Cuối cùng, công ty cần thường xuyên tổ chức các buổi đối thoại giữa NLĐ và NSDLĐ để giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Những giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi cho NLĐ mà còn tạo ra môi trường làm việc ổn định và hiệu quả cho công ty.

3.1. Tăng cường công tác đào tạo

Việc tăng cường công tác đào tạo cho NLĐ về pháp luật lao động là rất cần thiết. Công ty nên tổ chức các khóa học, hội thảo về quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ trong quan hệ lao động. Điều này không chỉ giúp NLĐ nắm rõ các quy định pháp luật mà còn tạo ra sự đồng thuận trong việc thực hiện hợp đồng lao động. Hơn nữa, việc đào tạo cũng giúp NLĐ nâng cao kỹ năng làm việc, từ đó nâng cao hiệu quả công việc và đóng góp tích cực vào sự phát triển của công ty.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm hợp đồng lao động Khái niệm hợp đồng lao động ở Việt Nam ra đời khá sớm. Ngay sau khi đất nước ta giành được độc lập năm 1945 cùng với quá trình khôi phục và phát triển đất nước thì vấn đề sửa đổi pháp luật cũng được diễn ra hết sức khẩn chương.

Ngày 12 tháng 3 năm 1947 Sắc lệnh 29 sắc lệnh đầu tiên về vấn đề lao động của nước ta sau khi độc lập đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thông qua. Trong sắc lệnh này vấn đề hợp đồng lao động được đề cập đến trong Chương thứ 3 Khế ước làm công, trong phần chương này đã quy định rõ những loại hợp đồng lao động, những công việc được thỏa thuận, tiền công, các khoản phụ cấp, tuổi làm việc và thời gian làm việc. Những điều này phải được các bên áp dụng không được vi phạm để đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Có thể thấy ngay từ đầu nhà nước ta đã quan tâm đến người lao động.

Sau khi đất nước được thống nhất thì pháp luật cũng có những thay đổi cho phù hợp. Trong thông tư 01/LĐ-TBXH ngày 9 tháng 1 năm 1988 hướng dẫn thực hiện Quyết định 217/HĐBT Hội đồng bộ trưởng ngày 14 tháng 11 năm 1987 về lao động tiền lương và xã hội. Trong thông tư này khái niệm “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa giám đốc xí nghiệp và người lao động về nghĩa vụ và quyền lợi, về trách nhiệm và quyền hạn của hai bên trong quá trình lao động do giám đốc và người lao động ký kết theo mẫu đính kèm Thông tư này”. Trong thông tư này nêu rõ hợp đồng lao động chỉ có một loại là bằng văn bản và được ký giữa giám đốc và người lao động.

Thông tư 01/1988/LĐ-TBXH chỉ tồn tại có vẻn vẹn hai năm và được thay đổi bằng Pháp lệnh về hợp đồng lao động của Hội đồng nhà nước. Pháp lệnh ra đời nhằm thích ứng với nền kinh tế thị trường từng bước mở cửa thay 5 Luan van cho nền kinh tế quan liêu tập trung bao cấp. Trong Pháp lệnh đầu tiên dành riêng cho hợp đồng lao động đã nêu trọn vẹn những vấn đề trong quan hệ lao động và cách thức điều chỉnh. Pháp lệnh là bước đầu tiên mở đường cho sự ghi nhận quan hệ lao động trong thời kỳ đổi mới bình đẳng cạnh tranh lành mạnh.

Tại Điều 1 Pháp lệnh nêu rõ “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người sử dụng, thuê mướn lao động (gọi chung là người lao động), về việc làm có trả công, mà hai bên cam kết với nhau về điều kiện sử dụng lao động và điều kiện lao động, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Pháp lệnh lao động năm 1990 cũng chỉ tồn tại được có bốn năm thì đã được thay đổi bằng Bộ luật lao động đầu tiên của nước ta là Bộ luật lao động năm 1994. Nguyên nhân của sự thay đổi này là do tình hình kinh tế khu vực có nhiều thay đổi làm cho pháp luật phải thay đổi để phù hợp với xu thế và đi đầu là sự thay đổi của Hiến pháp năm 1992 đã làm các luật khác phải sửa đổi cho phù hợp. Bộ luật Lao động năm 1994 quy định về hợp đồng lao động trong Chương 4 Điều 26 theo đó “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.

Bộ luật Lao động năm 1994 từ khi ra đời đến nay là Bộ luật có tuổi đời dài nhất và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 nhằm phù hợp với tình hình hội nhập kinh tế sâu rộng. Nhưng sửa đổi vẫn chưa thể khắc phục hết những hạn chế. Do đó tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động năm 2012 thay thế cho Bộ luật lao động năm 1994. Trong Bộ luật Lao động năm 2012 tại Điều 15 quy định “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.

Tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển xu hướng phát triển của nền công nghiệp 4.0 đã tác động mạnh đến các ngành kinh tế và do đó cũng tác 6 Luan van động trực tiếp tới người lao động. Nhận thấy cần phải thay đổi cho phù hợp và tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động thì tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Bộ luật Lao động năm 2019 ngày 20 tháng 11 năm 2019 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021. Trong thay đổi lần này hợp đồng lao động đã có những thay đổi căn bản, cụ thể hợp đồng lao động được quy định tại Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019. “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động”. Như vậy, về cơ bản Bộ luật Lao động 2019 cũng xác định hợp đồng lao động về bản chất là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về các vấn đề như việc làm, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Ngoài ra, Bộ luật Lao động 2019 không chỉ thừa nhận những thỏa thuận về việc làm có trả lương mới là HĐLĐ mà cả những trường hợp việc làm có trả công cũng sẽ được xác định là hợp đồng lao động. Việc nhận diện HĐLĐ không chỉ căn cứ vào hình thức, tên gọi của hợp đồng mà quan trọng là phải xem xét bản chất của mối quan hệ.

Để xác định một hợp đồng có phải là hợp đồng lao động hay không, không nhất thiết phải dựa vào tên gọi của hợp đồng. Nếu hợp đồng đó có tên gọi khác nhưng nội dung của nó thể hiện “việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên” thì vẫn xác định là hợp đồng lao động và phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Lao động. Khái niệm giao kết hợp đồng lao động Giao kết HĐLĐ là cơ sở hình thành quan hệ pháp luật lao động giữa NLĐ và NSDLĐ. Quan hệ lao động có được hài hòa, ổn định trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, việc thực hiện hay chấm dứt hợp đồng lao động, quyền và lợi ích của các bên có được bảo đảm hay không phụ thuộc rất lớn vào việc giao kết HĐLĐ.

HĐLĐ là một dạng của hợp đồng nên để xác định giao kết hợp đồng lao động là gì phải xuất phát từ khái niệm giao kết hợp đồng. Theo Từ điển Luật học (Nhà xuất bản Tư pháp - 2006), giao kết hợp đồng được xác định là việc: “Các bên bày tỏ ý chí về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng trên cơ sở tuân theo các nguyên tắc do pháp luật quy định”. Như vậy, giao kết hợp đồng lao động được hiểu là việc NLĐ và NSDLĐ bày tỏ việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng lao động trên cơ sở tuân theo các nguyên tắc do pháp luật quy định. Khái niệm thực hiện hợp đồng lao động Theo Từ điển Luật học,“Thực hiện hợp đồng là những hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng nhằm làm cho các điều khoản, nội dung đã cam kết trong hợp đồng trở thành hiện thực”.

Thực hiện hợp đồng chính là sự tiếp nối có tính tất yếu trong quan hệ khi các bên đã giao kết hợp đồng, là quá trình các bên thực hiện các hành vi để hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của mình đã thỏa thuận trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật. Như vậy, thực hiện hợp đồng lao động hành vi pháp lý của hai bên nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã cam kết trong HĐLĐ. Vai trò của hợp đồng lao động Trong quá trình thực hiện các công việc đều sẽ có các cách thức vận hành và quản lý khác nhau nhưng nó phải đảm bảo phù hợp với tính chất công việc, giúp công việc hoàn thành một cách tốt nhất đạt hiệu quả cao nhất. Hợp đồng lao động chính là sự hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của các bên.

Trong lĩnh 8 Luan van vực lao động cũng vậy, người sử dụng lao động có quyền quản lý người lao động trên cơ sở những nội dung đã giao kết trong HĐLĐ, trên cơ sở nội quy, quy định của pháp luật. Đồng thời khi tham gia vào lĩnh vực lao động các bên đồng thời chịu sự quản lý của nhà nước. Chính vì vậy, HĐLĐ trước hết là cơ sở quan trọng để NSDLĐ thực hiện quyền tự chủ trong việc tuyển chọn, sử dụng và quản lý NLĐ phù hợp với yêu cầu của mình trên cơ sở quy định của pháp luật. Đồng thời HĐLĐ cũng là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để NLĐ thực hiện quyền tự do làm việc, tự do lựa chọn việc làm cũng như nơi làm việc.

Vì vậy, HĐLĐ đóng vai trò rất lớn trong quan hệ pháp luật lao động. Thứ nhất, HĐLĐ là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động giữa NLĐ và NSDLĐ, ghi nhận những cam kết, cho việc thực hiện và đảm bảo các quyền, nghĩa vụ của các bên, thể hiện ý chí của các bên, sự bình đẳng, tự do của người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình xác lập và duy trì mối quan hệ lao động. Thứ hai, HĐLĐ là cơ sở để NSDLĐ thực hiện quyền quản lý lao động. Khi tham gia quan hệ pháp luật lao động, NLĐ chịu sự phụ thuộc pháp lý với NSDLĐ.

Trong quan hệ này NSDLĐ trở thành chủ thể quản lý và NLĐ trở thành đối tượng bị quản lý. Thứ ba, HĐLĐ là cơ sở để hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật lao động. HĐLĐ được coi như hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp về hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Việt Trường Thành" của tác giả Lương Văn Ban, dưới sự hướng dẫn của ThS. Đoàn Thị Vượng, thuộc Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, tập trung vào việc phân tích quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng lao động trong bối cảnh pháp luật hành chính hiện hành. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc thực hiện hợp đồng lao động tại doanh nghiệp. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức bảo vệ quyền lợi của người lao động, cũng như các biện pháp cải thiện quy trình làm việc trong môi trường doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến hợp đồng lao động và chính sách lao động, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu thỏa ước lao động tập thể theo pháp luật lao động Việt Nam tại quận Tân Phú, TP.HCM, nơi cung cấp cái nhìn về thỏa ước lao động tập thể, và Luận án tiến sĩ về bảo vệ người lao động chưa thành niên theo pháp luật lao động tại Thái Nguyên, giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền lợi của nhóm lao động đặc thù. Cuối cùng, bài viết Thỏa Thuận Hạn Chế Cạnh Tranh Trong Hợp Đồng Lao Động: Kinh Nghiệm và Bài Học Cho Việt Nam sẽ cung cấp những kinh nghiệm quốc tế có thể áp dụng vào thực tiễn Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực hợp đồng lao động và các chính sách liên quan.