Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 1.1 Lao động chưa thành niên 1.1 Khái niệm Trên thế giới hiện chưa có khái niệm thống nhất về “ lao động chưa thành niên”. Theo Công ước về quyền trẻ em năm 1989 của Liên hợp quốc và Công ước số 182 năm 1999 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất không đưa ra khái niệm “ lao động chưa thành niên” mà đưa ra khái niệm “lao động trẻ em”. Theo đó, “ trẻ em được xác định là người dưới mười tám tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn”. Còn trong Bản quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 có quy định: “ người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.
Giới hạn dưới tuổi này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên”. Như vậy, khi đưa ra khái niệm chưa thành niên, pháp luật quốc tế không dựa hoàn toàn, trực tiếp vào đặc điểm tâm, sinh lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần,. mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi. Nhìn chung, pháp luật quốc tế đã đưa ra khả năng “mở” cho các quốc gia tùy điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống riêng để có thể quy định độ tuổi thành niên sớm hơn.
Ở Việt Nam, những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần nhưng tham gia lao động là hiện tượng phổ biến và được nhà nước thừa nhận. Hiện nay, hệ thống pháp luật nước ta đang ghi nhận cả hai thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên”. Theo Điều 1 Luật trẻ em 2016 thì “ trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Còn theo Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “ người 8 luan an chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”.
Điều đó cho thấy khái niệm “ trẻ em” trong pháp luật Việt Nam là không hoàn toàn đồng nhất với quy định của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Xét về độ tuổi, “ trẻ em” theo quan niệm của Liên hợp quốc tương ứng với khái niệm “ người chưa thành niên” của pháp luật Việt Nam là người dưới 18 tuổi. Trong lĩnh vực pháp luật lao động, khái niệm người lao động chưa thành niên hiện nay được quy định tại Điều 119 Bộ luật lao động 2012. Theo đó, “người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”.
Căn cứ các quy định liên quan về người lao động chưa thành niên, giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội có diễn giải rõ hơn như sau: “ lao động chưa thành niên là những lao động dưới 18 tuổi, bao gồm hai loại lao động là lao động dưới 15 tuổi và lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi”. Quy định này thể hiện sự phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự 2015 về xác định độ tuổi, năng lực chủ thể và trách nhiệm chủ thể, thông qua đó để xác định phạm vi tham gia công việc, điều kiện bảo đảm và phương hướng bảo vệ lao động chưa thành niên trong quan hệ lao động. Đồng thời cũng thể hiện sự phù hợp với quy định của Công ước về quyền trẻ em năm 1989 của Liên hợp quốc và Công ước số 182 năm 1999 của ILO. Tuy nhiên, tương tự như Điều 119 Bộ luật lao động, khái niệm này chưa nêu rõ những đặc tính cơ bản làm cơ sở để nhận biết đối tượng người lao động chưa thành niên.
Theo tiến sỹ Nguyễn Hữu Chí: “ mọi người lao động dưới 18 tuổi có khả năng lao động và giao kết hợp đồng lao động là lao động chưa thành niên”. Đây là khái niệm phản ánh tương đối đầy đủ nội hàm về người lao động chưa thành niên, trong đó đã xác định phạm vi đối tượng, tính chất, thuộc tính của nhóm đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần tham gia quan hệ lao động, làm cơ sở để phân biệt với những người lao động đã phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần. 9 luan an Từ đó có thể đưa ra khái niệm lao động chưa thành niên như sau: người lao động chưa thành niên là người lao động có đặc điểm riêng, gồm những người dưới 18 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Khái niệm này đã nhấn mạnh đây là nhóm lao động đặc thù, có những đặc điểm riêng biệt nhằm xây dựng một hành lang pháp lý phù hợp để bảo vệ quyền lợi xác đáng cho họ.
Đây cũng là khái niệm thể hiện tính đồng nhất với các quy định của pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng khi chỉ rõ phạm vi giới hạn tối đa về độ tuổi của người lao động chưa thành niên là dưới 18 tuổi nhằm phân biệt với người lao động thành niên, có sự phát triển đầy đủ về thể lực, trí tuệ. Ngoài ra, khái niệm trên cũng nêu điều kiện, tính chất của người lao động chưa thành niên. Đó chính là khả năng lao động. Việc xác định khả năng lao động là điều kiện, thuộc tính của đối tượng này nhằm phân biệt với người không có khả năng lao động (có khuyết tật nặng về trí lực, thể lực,.
Một điều kiện quan trọng khác để được thừa nhận là người lao động chưa thành niên, đó là phải có giao kết hợp đồng lao động. Người chưa thành niên có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đầy đủ nhưng có trường hợp họ không được coi là người lao động chưa thành niên khi họ không tham gia vào quan hệ lao động. Việc tham gia quan hệ lao động thông qua hình thức hợp đồng lao động. Theo đó, chủ thể trong hợp đồng lao động phải là người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên.
Đồng thời, hai bên khi giao kết hợp đồng lao động phải tuân theo những quy định về hình thức, nội dung hợp đồng để đảm bảo hợp đồng có hiệu lực.2 Tính đặc thù của lao động chưa thành niên So sánh với lao động thành niên, có thể thấy lao động chưa thành niên là nhóm lao động đặc thù, có những đặc điểm riêng cơ bản như sau: Thứ nhất, lao động chưa thành niên là người có độ tuổi dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần. Ở giai đoạn dưới 18 tuổi, nhóm người này đang phát triển vượt bậc về thể chất nhưng chưa có sự ổn định về sinh lý. Nếu phải lao động với cường độ quá sức, hoặc làm việc nhiều giờ, hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại,.hoặc phải tiếp xúc thường xuyên với các môi trường dễ xảy ra tệ nạn xã hội như: quán bar, quán karaoke, quán bia – rượu,. sẽ ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ của người chưa thành niên.
Tâm lý phức tạp của lứa tuổi này cũng là một vấn đề lo ngại khi họ bắt đầu có sự tự ý thức về cá tính của mình, việc sinh hoạt, giao tiếp với xã hội cũng được mở rộng và mang tính độc lập hơn, không chịu sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ từ gia đình như trước. Nếu không có sự uốn nắn kịp thời, người lao động chưa thành niên, với tâm lý tuổi trẻ bồng bột, hiếu thắng, rất dễ ảnh hưởng xấu đến khả năng học nghề, năng suất lao động, thậm chí là cả sự hình thành về tính cách sau này. Chính vì vậy, các yếu tố bên ngoài là một trong những yếu tố để hình thành nhân cách, lối sống của lao động chưa thành niên. Mặt khác, lao động chưa thành niên là người chưa hoàn thiện về nhận thức, trì tuệ, còn non nớt về xã hội và pháp luật cho nên rất khó để họ độc lập thực hiện và bảo vệ tính mạng, danh dự của mình.
Vì thế, đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị xâm hại, bị lợi dụng, dụ dỗ, bóc lột lao động. Xuất phát từ đặc điểm này mà pháp luật lao động cũng có quy định chặt chẽ các vấn đề liên quan đến việc tuyển dụng và sử dụng lao động chưa thành niên. Thứ hai, người lao động chưa thành niên được pháp luật bảo vệ ở mức độ cao hơn so với người lao động thành niên. Lao động chưa thành niên còn 11 luan an thiếu kinh nghiệm sống và làm việc, chưa hiểu biết pháp luật, hiểu biết xã hội.
Do độ tuổi còn trẻ, nên lao động chưa thành niên chưa có nhiều kinh nghiệm sống, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, chưa nhận thức được đầy đủ về quyền và nghĩa vụ lao động của mình. Cho nên khả năng tự bảo vệ là chưa cao, nhiều em nhỏ phải chịu nguy cơ bị bóc lột, lợi dụng sức lao động. Do vậy, họ được pháp luật bảo vệ theo hướng hưởng một số quyền, lợi ích ngang bằng hoặc hơn những quyền và lợi ích mà pháp luật quy định với người lao động thành niên, như: tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,. Mặt khác, việc bảo vệ người lao động chưa thành niên còn thể hiện ở quy định hạn chế họ tham gia làm một số công việc, ngành nghề nhất định.
Đối với nhóm lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi là nhóm tuổi tham gia quan hệ lao động khá phổ biến hiện nay. Theo như Bộ luật dân sự năm 2015 thì đây cũng là nhóm tuổi tối thiểu để có năng lực chủ thể khi tham gia vào quan hệ lao động, có thể tự mình xác lập một số quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động ( Ví dụ như giao kết hợp đồng lao động). Việc quy định nhóm tuổi lao động này căn cứ vào một số yếu tố như: cơ cấu và nhu cầu giải quyết việc làm của xã hội, điều kiện kinh tế, xã hội của một số quốc gia, lực lượng lao động xã hội và một số yếu tố khác. Bên cạnh đó, việc quy định về nhóm tuổi này hoàn toàn phù hợp với Công ước số 138 năm 1973 về độ tuổi tối thiểu.
Mặc dù, pháp luật cho phép độ tuổi này được tham gia lao động, học nghề những do chưa hoàn thiện đầy đủ về thể chất lẫn tinh thần nên độ tuổi này chỉ được phép làm những công việc phù hợp với sức khỏe, không được làm những công việc độc hại, nặng nhọc, nguy hiểm hoặc nơi làm việc, tính chất công việc ảnh hưởng xấu đến nhân cách của họ.