Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp r nđồng lao động theo pháp luật lao động r nviệt nam hiện nay thực tiễn và kiến nghị

Tài liệu nghiên cứu Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp r nđồng lao động theo pháp luật lao động r nviệt nam hiện nay, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

52
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

0.4. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng của đề tài

0.6. Bố cục của Báo cáo

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng lao động và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1.1.1. Khái niệm hợp đồng lao động

1.1.2. Khái niệm chấm dứt hợp đồng lao động

1.1.3. Khái niệm và đặc điểm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1.2. Các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1.2.1. Căn cứ vào tính chất pháp lý của hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1.2.2. Căn cứ vào ý chí của chủ thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1.2.3. Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

2.1. Quy định pháp luật về việc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

2.1.1. Căn cứ để người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

2.1.2. Thủ tục áp dụng trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

2.2. Quy định pháp luật về việc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

2.2.1. Căn cứ để người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

2.2.2. Thủ tục để người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

2.3. Quy định pháp luật về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

2.3.1. Các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

2.3.2. Hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

3. CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

3.1. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của các bên trong việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp luật về Đơn Phương Chấm Dứt HĐLĐ 55 ký tự

Hợp đồng lao động (HĐLĐ) là nền tảng pháp lý cho mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Nó đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai bên. Pháp luật lao động cho phép các bên có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ để giảm thiểu thiệt hại. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được ghi nhận từ Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 1994 và các văn bản sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, các quy định trước đây còn thiếu sót. BLLĐ năm 2019 đã sửa đổi, bổ sung về chấm dứt HĐLĐ, nhưng hiệu quả thực tế vẫn cần kiểm chứng, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 gây ra nhiều tranh chấp. Do đó, nghiên cứu về pháp luật liên quan đến đơn phương chấm dứt HĐLĐ là rất cần thiết.

Trích dẫn: 'Hợp đồng lao động là cơ sở ràng buộc giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động nhằm làm cam kết để thực hiện những thỏa thuận giữa hai bên.'

1.1. Khái niệm HĐLĐ theo Bộ Luật Lao Động hiện hành

Hợp đồng lao động, theo khoản 1 Điều 13 BLLĐ 2019, là 'sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động'. Hợp đồng được ký kết bằng văn bản, lời nói hoặc thông qua phương tiện điện tử. Việc ký kết bằng văn bản giúp bảo vệ quyền lợi của các bên và là căn cứ để giải quyết tranh chấp. Theo đó, phương tiện giao kết điện tử cũng được pháp luật công nhận giá trị pháp lý tương đương. Hình thức giao kết điện tử giúp tiết kiệm thời gian nhưng vẫn đảm bảo giá trị pháp lý.

1.2. Bản chất của Đơn phương chấm dứt hợp đồng

Theo thạc sĩ Trần Thị Nguyệt, 'Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc một bên tự ý chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động mà không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại'. Việc chấm dứt phải dựa trên căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, nhiều trường hợp các bên không tuân thủ quy định và tự ý chấm dứt HĐLĐ do thiếu hiểu biết, lợi ích cá nhân hoặc trình độ nhận thức. Do đó, cần nâng cao nhận thức pháp luật cho cả người lao động và người sử dụng lao động.

II. Phân Tích Các Trường Hợp Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng 57 ký tự

BLLĐ 2019 quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động, bao gồm cả trường hợp đương nhiên chấm dứt và đơn phương chấm dứt. Các trường hợp đương nhiên chấm dứt là khi có sự kiện khách quan như người lao động bị kết án tù, HĐLĐ hết hạn, hoặc thỏa thuận chấm dứt. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan từ cả người lao động và người sử dụng lao động. Thực tiễn cho thấy, việc xác định đúng căn cứ chấm dứt là rất quan trọng để tránh tranh chấp. Do vậy cần phải xem xét kỹ các điều khoản, quy định của pháp luật để đưa ra quyết định hợp lý.

2.1. Quyền của Người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu đáp ứng các điều kiện nhất định, ví dụ như không được bố trí đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận. Ngoài ra, người lao động còn được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc, trả lương chậm hoặc không trả lương đầy đủ. Tuy nhiên, cần tuân thủ thời gian báo trước theo quy định của pháp luật.

2.2. Quyền của Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt

Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng, hoặc bị ốm đau, tai nạn mà sau thời gian điều trị dài ngày không thể phục hồi. Người sử dụng lao động cần tuân thủ đúng quy trình thông báo cho người lao động, phải đưa ra đầy đủ bằng chứng chứng minh cho việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân thủ thủ tục giúp giảm thiểu rủi ro tranh chấp.

2.3. Hậu quả pháp lý khi chấm dứt hợp đồng trái luật

Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho bên vi phạm. Người lao động có thể bị mất các quyền lợi như trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp. Người sử dụng lao động có thể bị buộc phải bồi thường thiệt hại, khôi phục lại vị trí làm việc cho người lao động. Tòa án sẽ xem xét các yếu tố vi phạm để đưa ra phán quyết cuối cùng.

III. Thủ Tục Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Chấm Dứt Hợp Đồng 59 ký tự

Thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cần tuân thủ theo quy định của BLLĐ 2019. Cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải thực hiện việc thông báo trước cho bên kia. Thời gian báo trước khác nhau tùy thuộc vào loại hợp đồng. Việc tuân thủ đúng thủ tục giúp đảm bảo quyền lợi của các bên và tránh phát sinh tranh chấp. Nếu không tuân thủ, việc chấm dứt hợp đồng có thể bị coi là trái pháp luật, dẫn đến các hậu quả pháp lý.

3.1. Thời Gian Báo Trước Theo Luật Lao Động Mới Nhất

Thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được quy định rõ trong BLLĐ 2019. Đối với HĐLĐ không xác định thời hạn, thời gian báo trước là ít nhất 45 ngày. Đối với HĐLĐ xác định thời hạn, thời gian báo trước là ít nhất 30 ngày. Đối với một số ngành nghề, công việc đặc thù, thời gian báo trước có thể ngắn hơn. Tuy nhiên, việc không tuân thủ thời gian báo trước có thể dẫn đến việc chấm dứt bị coi là trái pháp luật.

3.2. Các Bước Thực Hiện Thông Báo Chấm Dứt Hợp Đồng

Việc thông báo chấm dứt hợp đồng phải được thực hiện bằng văn bản. Trong thông báo cần nêu rõ lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thời điểm chấm dứt. Thông báo phải được gửi đến bên kia đúng thời hạn quy định. Việc lưu giữ bằng chứng về việc đã gửi thông báo là rất quan trọng để chứng minh việc tuân thủ thủ tục. Việc thông báo có thể được thực hiện trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.

IV. Giải Quyết Tranh Chấp và Khiếu Nại Hướng Dẫn Chi Tiết 60 ký tự

Khi có tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, các bên có thể giải quyết thông qua hòa giải, trọng tài hoặc tòa án. Hòa giải là phương thức được khuyến khích, giúp các bên tự thỏa thuận giải quyết. Nếu hòa giải không thành, các bên có thể yêu cầu trọng tài giải quyết. Cuối cùng, nếu không đồng ý với quyết định của trọng tài, các bên có quyền khởi kiện tại tòa án. Việc thu thập đầy đủ chứng cứ là rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của mình.

4.1. Quy Trình Hòa Giải Tranh Chấp Lao Động Cụ Thể

Quy trình hòa giải tranh chấp lao động được thực hiện theo quy định của pháp luật. Hòa giải viên sẽ lắng nghe ý kiến của cả hai bên và đưa ra phương án hòa giải. Nếu cả hai bên đồng ý với phương án hòa giải, kết quả hòa giải sẽ được lập thành văn bản và có giá trị pháp lý. Trong quá trình hòa giải, các bên có quyền yêu cầu hòa giải viên cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến tranh chấp.

4.2. Vai Trò của Tòa Án trong Giải Quyết Tranh Chấp

Tòa án có vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Tòa án sẽ xem xét các chứng cứ, tài liệu do các bên cung cấp và đưa ra phán quyết dựa trên quy định của pháp luật. Quyết định của tòa án có giá trị pháp lý bắt buộc thi hành. Các bên có quyền kháng cáo quyết định của tòa án nếu không đồng ý.

V. Thực Tiễn Áp Dụng Luật Bài Học Từ Các Vụ Việc 55 ký tự

Thực tiễn áp dụng pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động còn nhiều bất cập. Nhiều doanh nghiệp chưa tuân thủ đúng quy trình, gây thiệt hại cho người lao động. Ngược lại, nhiều người lao động cũng đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không tuân thủ thời gian báo trước, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Các vụ việc tranh chấp thường liên quan đến việc xác định căn cứ chấm dứt, thời gian báo trước, và mức bồi thường. Việc nâng cao nhận thức pháp luật cho cả hai bên là rất quan trọng.

5.1. Phân Tích Các Bản Án Quyết Định Liên Quan

Nghiên cứu các bản án, quyết định của tòa án về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giúp hiểu rõ hơn cách tòa án áp dụng pháp luật. Các bản án thường phân tích kỹ lưỡng các yếu tố như căn cứ chấm dứt, thời gian báo trước, mức bồi thường, và trách nhiệm của các bên. Việc tham khảo các bản án giúp các bên rút ra bài học kinh nghiệm và phòng tránh tranh chấp.

5.2. Các Vướng Mắc Thường Gặp và Giải Pháp Khắc Phục

Một số vướng mắc thường gặp trong thực tiễn áp dụng pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bao gồm việc xác định căn cứ chấm dứt hợp pháp, tính toán mức bồi thường, và chứng minh thiệt hại. Để khắc phục, cần có hướng dẫn cụ thể hơn từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

VI. Kiến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật Đề Xuất Giải Pháp 59 ký tự

Để hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định cho phù hợp với thực tiễn. Cần quy định rõ hơn về các trường hợp được coi là căn cứ chấm dứt hợp pháp. Cần có hướng dẫn cụ thể về cách tính toán mức bồi thường. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế cũng là rất cần thiết.

6.1. Đề Xuất Sửa Đổi Bổ Sung Luật Lao Động Hiện Hành

Việc sửa đổi, bổ sung Luật Lao động cần tập trung vào việc làm rõ các quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Cần quy định cụ thể hơn về các trường hợp người lao động không cần báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng. Cần có cơ chế giám sát hiệu quả việc thực thi pháp luật để đảm bảo quyền lợi của người lao động.

6.2. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thi Hành Pháp Luật

Để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Cần khuyến khích các tổ chức đại diện người lao động tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.

20/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, đây cũng là cơ sở để giải quyết các tranh chấp lao động khi quyền và lợi ích của một bên bị xâm phạm. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là trường hợp hợp đồng lao động được chấm dứt xuất phát từ ý chí của một bên trong quan hệ lao động và khi đó quyền, nghĩa vụ của các bên cũng chấm dứt nhưng hợp đồng lao động đã thỏa thuận vẫn còn hiệu lực. Căn cứ vào tính chất pháp lý của hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có thể xác định được những trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật và trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Và nếu căn cứ vào ý chí của chủ thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì sẽ có những trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như một con dao hai lưỡi vì nó không chỉ mang đến những ảnh hưởng tích cực mà còn có những ảnh hưởng tiêu cực đối với một trong hai bên trong quan hệ lao động gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế cũng như gây mất ổn định trong xã hội hay thị trường việc làm, và nhất là trong những trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Do đó, việc quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là rất cần thiết đối với tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay. 15 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 2.1 Quy định pháp luật về việc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 2.1 Căn cứ để người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động, Điều 37 BLLĐ 2012 có quy định: người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn nếu đáp ứng đủ hai điều kiện là phải có lý do theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 BLLĐ 2012 và phải tuân thủ thời hạn báo trước tùy vào loại hợp đồng và lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn chỉ cần báo trước 45 ngày mà không cần lý do chấm dứt.

Như vậy, điều kiện nào để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cũng phải tùy thuộc vào loại hợp đồng lao động mà các bên đã thỏa thuận. Do đó, mặc dù việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động được cho phép khá rộng rãi, tuy nhiên, đó không thể là một sự tự do vô điều kiện.9 Trong quá trình triển khai thực hiện suốt một thời gian khá dài cũng như cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội hiện nay, quy định này đã bộc lộ nhiều bất cập, gây khó khăn cho người lao động khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của mình. Nhằm mục đích khắc phục những hạn chế trên và điều chỉnh để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay, Điều 35 BLLĐ 2019 cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do chấm dứt mà chỉ cần báo trước cho người sử dụng lao động theo thời gian được quy định tương ứng 9 Đoàn Thị Phương Diệp (Chủ biên), Giáo trình Luật lao động, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr 143 16 với từng loại hợp đồng.

Bên cạnh đó, pháp luật lao động cũng quy định những trường hợp người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước, bao gồm: Trường hợp thứ nhất là khi người lao động không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận. Trường hợp nếu người sử dụng lao động gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì họ được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng phải tuân thủ đúng theo quy định về việc chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động đã thỏa thuận. Khi thực hiện giao kết hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động và người lao động phải thỏa thuận các điều khoản cụ thể về công việc mà người lao động phải làm, địa điểm và các điều kiện làm việc. Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải đảm bảo những vấn đề đó cho người lao động để họ yên tâm làm việc.

Vì vậy nếu như thỏa thuận trong hợp đồng không được người sử dụng lao động thực hiện hiện đúng thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Trường hợp thứ hai là khi người lao động không được trả đủ lương hoặc bị trả lương không đúng thời hạn. Vấn đề thu nhập là yếu tố quan trọng nhất mà người lao động quan tâm khi tham gia vào quan hệ lao động và cũng là điều khoản không thể thiếu trong thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Việc người sử dụng lao động không trả đầy đủ hoặc không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống của người lao động và gia đình họ.

Việc trả lương đầy đủ và đúng thời hạn là nghĩa vụ mà người sử dụng lao động phải thực hiện và là quyền lợi mà người lao động được nhận. Do đó khi người sử dụng lao động vì lợi ích của mình mà vi phạm quyền lợi này của người lao động thì họ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn theo quy định tại khoản 4 Điều 97 BLLĐ 2019. Tuy nhiên quy 17 định này vẫn chưa rõ ràng và dễ gây hiểu sai ý nghĩa của quy định.

Câu hỏi được đặt ra ở đây là lúc nào thì được xem là người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục và trong những tình huống bất khả kháng là những tình huống cụ thể như thế nào. Trong những trường hợp khó xác định được cụ thể thì sẽ tạo nhiều bất lợi cho việc áp dụng pháp luật khi có tranh chấp xảy ra cũng như một trong hai chủ thể trong quan hệ lao động có thể dựa vào kẻ hở này để xâm phạm quyền lợi của đối phương. Do đó cần có văn bản hướng dẫn rõ quy định này để không gây nhầm lẫn trong quá trình áp dụng, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong công tác xét xử của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp thứ ba là nếu người lao động bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động.

Để làm rõ hơn quy định này thì tại Khoản 7 Điều 3 BLLĐ 2019 có đưa ra khái niệm “Cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ”. Biểu hiện việc dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực có vẻ được quy định rõ ràng và dễ áp dụng hơn khi chỉ cần chứng minh có những yếu tố đó xảy ra khiến người lao động phải làm việc trái với ý muốn của họ. Tuy nhiên đối với biểu hiện “các thủ đoạn khác” thì chưa được giải thích một cách rõ ràng và cụ thể nên có thể gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Chủ thể thực hiện hành vi cưỡng bức lao động trong trường hợp này theo như quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 35 BLLĐ 2019 được xác định là người sử dụng lao động.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 BLLĐ 2019 thì người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Vậy nếu như người lao động bị một người khác tại nơi làm việc thực hiện các hành vi được quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 35 BLLĐ 2019 thì có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước. Ví dụ: Công ty A tuyển chị B làm việc ở vị trí công nhân tổ sản xuất, anh C được công ty A giao nhiệm vụ quản lý tổ sản xuất mà chị B đang 18 làm việc. Trong quá trình làm việc anh C đã có những hành vi như ngược đãi và những lời nói nhục mạ làm ảnh hưởng đến chị B.

Trong trường hợp thì anh C có được xem là người sử dụng lao động hay không và liệu chị B có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với công ty A không? Việc quy định về chủ thể trong trường hợp thứ ba này chưa được rõ ràng và cụ thể khiến cho quá trình áp dụng có thể gặp nhiều khó khăn, gây bất lợi cho người lao động. Trong quan hệ lao động, sức lao động được xem là một loại hàng hóa đặc biệt. Người lao động bán sức lao động cho người có nhu cầu cần nó là người sử dụng lao động. Điều đó không có nghĩa là người sử dụng lao động có quyền được ngược đãi, xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự và ép buộc người lao động để buộc họ phải làm việc.

Nếu người sử dụng lao động thực hiện một trong những hành vi trên đối với người lao động thì họ có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần thực hiện nghĩa vụ báo trước10. Trường hợp thứ tư là nếu người lao động bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động: Giải Quyết Bài Toán Khó Trong Quan Hệ Lao Động

Tài liệu "Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động: Quy Định Pháp Luật Việt Nam, Thực Tiễn và Giải Pháp" đi sâu vào một vấn đề nóng hổi: quyền và nghĩa vụ của cả người lao động và người sử dụng lao động khi một bên quyết định chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Bạn sẽ tìm thấy phân tích chi tiết về các điều kiện, thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc thường gặp trong thực tế. Đặc biệt, tài liệu còn đưa ra những giải pháp thiết thực để giảm thiểu tranh chấp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

Để hiểu rõ hơn về quy trình giao kết hợp đồng, bạn có thể tham khảo luận văn Luận văn thạc sĩ gi̇ao kết hợp đồng lao động theo bộ luật lao động năm 2019, cung cấp hướng dẫn chi tiết về cách thức xây dựng và ký kết hợp đồng lao động hợp pháp. Hoặc bạn muốn tìm hiểu về quyền và nghĩa vụ của các bên khi chấm dứt hợp đồng, hãy xem thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học quyền và nghĩa vụ của các bên khi chấm dứt hợp đồng lao động và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần chứng khoán vina. Nếu bạn quan tâm đến khía cạnh pháp lý từ góc độ so sánh, hãy khám phá Luận văn thạc sĩ luật học giao kết hợp đồng lao động theo pháp luật việt nam và pháp luật pháp từ góc độ so sánh. Mỗi liên kết là một cánh cửa mở ra kiến thức sâu rộng hơn về lĩnh vực hợp đồng lao động!