Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay – Thực tiễn và kiến nghị" do sinh viên Nguyễn Thị Thiên Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Phan Thị Hương Giang tại Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 5/2021).
Về bối cảnh thực tiễn, hợp đồng lao động là phương tiện pháp lý nền tảng xác lập quan hệ lao động, ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Chế định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đã được ghi nhận từ Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 1994, các Luật sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007 và BLLĐ năm 2012. Tuy nhiên, các quy định trước đây bộc lộ nhiều điểm sơ sài, thiếu tính thực tiễn, tạo kẽ hở pháp lý dẫn đến vi phạm khi áp dụng. Ngày 20/11/2019, Quốc hội khóa XIV đã ban hành BLLĐ năm 2019, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 với nhiều điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng về quyền chấm dứt hợp đồng của các bên. Do đạo luật này mới có hiệu lực trong thời gian ngắn (tính đến thời điểm nghiên cứu là 5 tháng), tính hiệu quả của các điều khoản mới chưa được kiểm chứng toàn diện.
Đồng thời, bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát đã tác động nặng nề tới nền kinh tế và thị trường việc làm. Tác giả viện dẫn số liệu: trong 9 tháng đầu năm 2020, có 33,4% doanh nghiệp phải thực hiện cắt giảm lao động; riêng 6 tháng đầu năm 2020 có khoảng 1,4 triệu người mất việc làm, trong đó gần 900 nghìn người mất việc do doanh nghiệp phá sản, giải thể hoặc thu hẹp quy mô sản xuất. Tình trạng này làm gia tăng tranh chấp lao động liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng. Từ thực tiễn đó, khóa luận hướng tới trả lời câu hỏi liệu các thay đổi trong BLLĐ năm 2019 có thực sự phát huy hiệu quả và tháo gỡ vướng mắc phát sinh hay không.
Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định thông qua ba nhiệm vụ chính:
- Tìm hiểu, phân tích các quy định của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
- Chỉ ra các điểm mới của BLLĐ năm 2019, đưa ra nhận xét, đánh giá thực tiễn áp dụng và những hạn chế còn tồn tại.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các văn bản quy phạm pháp luật về hợp đồng lao động và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; các văn bản pháp luật liên quan đến quyền con người; quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động và các bản án thực tế. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào các quan hệ lao động và thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam; phạm vi về thời gian bao quát các quy định hiện hành của BLLĐ năm 2019, kết hợp đối chiếu các văn bản pháp luật trước đây đã hết hiệu lực thi hành (trọng tâm là BLLĐ năm 2012).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc kế thừa các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trước đó, tiêu biểu như: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoa Tâm (2013) về "Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động – những vấn đề lý luận và thực tiễn"; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Duy Vinh Quang (2017) về "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay"; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Vui (2012) về "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bởi người sử dụng lao động theo pháp luật lao động Việt Nam". Cùng với đó là các bài báo chuyên khảo của TS. Đoàn Thị Phương Diệp trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (2020) và bài viết của Thẩm phán Phạm Thị Thu Hương trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử.
Khung pháp lý được tác giả trích dẫn và phân tích đối chiếu bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (Khoản 2 Điều 58 về bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (Khoản 1 Điều 161 về sự kiện bất khả kháng).
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Khoản 4 Điều 2 về bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em).
- Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (Điều 21 và Điều 99 về trách nhiệm cấp, chốt sổ bảo hiểm xã hội).
- Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019.
- Nghị định số 44/2003/NĐ-CP, Nghị định số 05/2015/NĐ-CP, Nghị định số 135/2020/NĐ-CP.
- Công văn số 1734/BHXH-QLT và Bộ quy tắc ứng xử về quấy rối tình dục tại nơi làm việc (do Ủy ban Quan hệ lao động phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và VCCI ban hành).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hai giai đoạn:
- Nghiên cứu sơ bộ: Sử dụng phương pháp định tính để thu thập thông tin lý thuyết, các chủ trương chính sách và các kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu chính thức: Kết hợp phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích, logic nhằm xâu chuỗi thông tin thành các nhóm luận điểm lý luận và đánh giá thực trạng; phương pháp luật so sánh được áp dụng xuyên suốt để chỉ rõ điểm tương đồng, điểm mới giữa BLLĐ năm 2019 và BLLĐ năm 2012; phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) thông qua phân tích bản án tranh chấp lao động sơ thẩm thực tế.
Nguồn dữ liệu của công trình là các quy định pháp luật thực định, tài liệu án lệ, bản án của Tòa án nhân dân cấp quận, báo cáo thống kê tình hình lao động việc làm năm 2020 của cơ quan chức năng và các bài báo khoa học chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Chương này tập trung làm rõ các khái niệm và bản chất pháp lý của hợp đồng lao động và hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng:
- Về khái niệm hợp đồng lao động: Tác giả điểm lại lịch sử lập pháp qua các tên gọi như "khế ước làm công" (Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/03/1947), "giao kèo thuê mướn lao động" (Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/05/1950) đến Khoản 1 Điều 13 BLLĐ năm 2019. Điểm cốt lõi của quy định hiện hành là khẳng định bản chất hợp đồng: bất kể hai bên giao kết bằng tên gọi nào, nếu có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì đều được xác định là hợp đồng lao động. Hình thức hợp đồng cũng được mở rộng công nhận thông điệp dữ liệu điện tử có giá trị như văn bản (Khoản 1 Điều 14 BLLĐ năm 2019).
- Về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: Là việc một bên tự ý chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận mà không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại. Hành vi này được phân loại dựa trên hai tiêu chí: (1) Căn cứ tính chất pháp lý gồm đơn phương chấm dứt đúng pháp luật (tuân thủ căn cứ và thủ tục) và trái pháp luật (vi phạm căn cứ hoặc thủ tục); (2) Căn cứ ý chí chủ thể gồm hành vi xuất phát từ phía người lao động hoặc từ phía người sử dụng lao động.
- Hậu quả pháp lý: Chấm dứt quan hệ lao động làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ mới như nghĩa vụ thanh toán trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, hoàn trả chi phí đào tạo hoặc bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần theo quy định tại Điều 40 và Điều 41 BLLĐ năm 2019.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Chương 2 phân tích chi tiết quy định thực định và chỉ ra những điểm nghẽn trong áp dụng luật:
- Quyền đơn phương chấm dứt của người lao động (Điều 35 BLLĐ năm 2019): Bước chuyển biến lớn nhất so với Điều 37 BLLĐ năm 2012 là người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần lý do, chỉ cần tuân thủ thời hạn báo trước theo loại hợp đồng (45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn; 30 ngày đối với hợp đồng xác định thời hạn từ 12 đến 36 tháng; 03 ngày làm việc đối với hợp đồng xác định thời hạn dưới 12 tháng). Bên cạnh đó, luật quy định 07 trường hợp người lao động được nghỉ việc ngay mà không cần báo trước: (1) Không được bố trí đúng công việc, địa điểm hoặc điều kiện làm việc; (2) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng hạn; (3) Bị ngược đãi, đánh đập, nhục mạ hoặc bị cưỡng bức lao động; (4) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; (5) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định y tế; (6) Đủ tuổi nghỉ hưu; (7) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực. Tác giả phát hiện bất cập: khái niệm "thủ đoạn khác" trong cưỡng bức lao động chưa rõ ràng; chưa xác định rõ hành vi nhục mạ từ cấp quản lý trung gian có được quy kết cho người sử dụng lao động hay không; chưa có quy định bắt buộc về hình thức thông báo báo trước (bằng văn bản hay lời nói).
- Quyền đơn phương chấm dứt của người sử dụng lao động (Điều 36 và Điều 37 BLLĐ năm 2019): Người sử dụng lao động bắt buộc phải có căn cứ luật định. BLLĐ năm 2019 bổ sung 03 căn cứ mới tại Khoản 1 Điều 36: người lao động đủ tuổi nghỉ hưu; người lao động tự ý bỏ việc không lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên; người lao động cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết hợp đồng. Cụm từ chung chung "lý do bất khả kháng khác" trong BLLĐ năm 2012 được bãi bỏ, thay bằng các căn cứ cụ thể như dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời hoặc thu hẹp sản xuất.
- Phân tích thực tiễn xét xử: Khóa luận phân tích Bản án sơ thẩm số 69/2019/LĐ-ST ngày 14/03/2018 của Tòa án nhân dân Quận 1, TP. Hồ Chí Minh giữa bà Ngô Mai Phương và Công ty Cổ phần Vật tư Tổng hợp Miền Nam. Doanh nghiệp ban hành Quyết định cho thôi việc số 002/2018/QĐ với lý do bà Phương không hoàn thành công việc, nhưng không ban hành quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP và không cung cấp được chứng cứ chứng minh vi phạm. Tòa án đã tuyên bố quyết định thôi việc trái pháp luật, buộc công ty bồi thường theo luật định.
- Bảo vệ quyền lợi các bên: Điều 37 BLLĐ năm 2019 bổ sung trường hợp cấm đơn phương chấm dứt đối với lao động nam đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới.
- Hậu quả pháp lý của hành vi trái pháp luật:
| Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật |
Căn cứ điều luật |
Trách nhiệm và chế tài pháp lý phải gánh chịu |
| Người lao động |
Điều 40 BLLĐ năm 2019 |
- Không được hưởng trợ cấp thôi việc. - Bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng. - Bồi thường khoản tiền tương ứng tiền lương trong những ngày không báo trước. - Hoàn trả chi phí đào tạo nghề theo Điều 62 BLLĐ năm 2019. |
| Người sử dụng lao động |
Điều 41 BLLĐ năm 2019 |
- Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết. - Trả tiền lương, đóng BHXH, BHYT, BHTN trong những ngày không được làm việc. - Trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng. - Bồi thường tiền lương tương ứng những ngày không báo trước (nếu vi phạm thủ tục). - Trả trợ cấp thôi việc và khoản bồi thường thêm theo thỏa thuận (ít nhất 02 tháng lương) nếu không nhận lại lao động. |
Tác giả chỉ ra vướng mắc thực tế tại Khoản 1 Điều 41: pháp luật chưa có văn bản hướng dẫn xác định "khoảng thời gian người lao động không được làm việc" khi tranh chấp kéo dài nhưng người lao động đã chủ động tìm được việc làm mới có thu nhập.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Trên cơ sở nhận diện các lỗ hổng thực tiễn, chương này đưa ra 06 kiến nghị cụ thể:
- Về xây dựng quy chế đánh giá công việc: Đề nghị Chính phủ ban hành nghị định hướng dẫn chi tiết cách thức xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế nội bộ của người sử dụng lao động; đồng thời bổ sung quy định về thời hạn hợp lý để người lao động sửa chữa, khắc phục sau khi bị nhắc nhở hoặc lập biên bản (kế thừa tinh thần Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP).
- Bổ sung căn cứ chấm dứt hợp đồng: Kiến nghị bổ sung vào Khoản 1 Điều 36 BLLĐ năm 2019 trường hợp người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi: "Người lao động bị cơ quan có thẩm quyền tước giấy phép hoặc hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp" (áp dụng với các chức danh đặc thù như luật sư, công chứng viên, nhà báo...).
- Quy định thời hạn chốt sổ BHXH và ban hành quyết định thôi việc: Kiến nghị sửa đổi điểm c Khoản 3 Điều 48 BLLĐ năm 2019 theo hướng ấn định thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng BHXH, BHTN và trả lại hồ sơ, ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng. Căn cứ thời hạn này dựa trên quy trình báo giảm ngày 28 hàng tháng theo Công văn số 1734/BHXH-QLT và thời hạn cấp lại sổ 10 ngày tại Khoản 3 Điều 99 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
- Tăng thời hạn báo trước đối với hợp đồng ngắn hạn: Đề xuất sửa đổi điểm c Khoản 2 Điều 36 BLLĐ năm 2019, nâng thời hạn báo trước của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng xác định thời hạn dưới 12 tháng từ 03 ngày làm việc lên ít nhất 15 ngày làm việc, giúp người lao động kịp thời tìm việc làm thay thế.
- Mở rộng đối tượng hưởng trợ cấp thôi việc, mất việc làm: Đề nghị sửa đổi Khoản 1 Điều 46 và Khoản 1 Điều 47 BLLĐ năm 2019 để người lao động làm việc dưới 12 tháng vẫn được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo tỷ lệ thời gian làm việc thực tế tại đơn vị.
- Thay đổi căn cứ tính trợ cấp thôi việc: Kiến nghị sửa đổi Khoản 3 Điều 46 và Khoản 3 Điều 47 BLLĐ năm 2019, lấy mức "thu nhập thực tế bình quân của 06 tháng liền kề" thay cho "tiền lương theo hợp đồng lao động" để tính trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người lao động khi mức lương thực nhận cao hơn mức ghi trên hợp đồng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất, đối chiếu toàn diện các quy phạm pháp luật giữa BLLĐ năm 2012 và BLLĐ năm 2019, làm sáng tỏ các số liệu và sự kiện pháp lý thực tế:
- Tổng hợp số liệu việc làm trong giai đoạn bùng phát dịch Covid-19 năm 2020 (33,4% doanh nghiệp cắt giảm lao động, 1,4 triệu người mất việc làm trong 6 tháng đầu năm).
- Làm rõ tính tiến bộ của BLLĐ năm 2019 khi trao quyền cho người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần lý do, đồng thời mở rộng thêm 03 căn cứ chấm dứt hợp đồng cho người sử dụng lao động.
- Chỉ ra các thiếu sót kỹ thuật lập pháp thông qua phân tích án lệ thực tế (Bản án số 69/2019/LĐ-ST), chứng minh yêu cầu bắt buộc phải có quy chế đánh giá hoàn thành công việc hợp lệ.
- Đóng góp khoa học của tác giả là đã xây dựng hệ thống 06 đề xuất lập pháp cụ thể, viện dẫn logic các mốc thời gian quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và văn bản hướng dẫn nghiệp vụ để đề xuất sửa đổi các Điều 36, 46, 47, 48 BLLĐ năm 2019.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài hoàn thành vào tháng 5/2021, thời điểm BLLĐ năm 2019 mới có hiệu lực thi hành được 5 tháng, do đó nguồn dữ liệu thực tế về các bản án áp dụng trực tiếp BLLĐ năm 2019 còn hạn chế; bản án minh họa trong khóa luận vẫn phải sử dụng vụ việc giải quyết theo BLLĐ năm 2012 và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP.
- Khóa luận chưa thực hiện được các khảo sát định lượng diện rộng về tỷ lệ doanh nghiệp đã ban hành quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc trên thực tế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài là theo dõi thực tiễn xét xử các tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo BLLĐ năm 2019 sau giai đoạn phục hồi kinh tế hậu Covid-19; nghiên cứu sâu về cơ chế xác định thiệt hại và tính tiền lương trong thời gian người lao động không được làm việc khi họ đã có việc làm mới; đánh giá việc áp dụng giao kết và chấm dứt hợp đồng lao động qua phương tiện điện tử.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự nghiên cứu đề tài về quan hệ lao động, hợp đồng lao động và kỹ năng giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
- Bộ phận nhân sự (HR) và pháp chế nội bộ tại các doanh nghiệp: tham khảo trực tiếp các lưu ý pháp lý tại Chương 2 để xây dựng quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc hợp pháp và kiểm soát rủi ro về thời hạn báo trước khi xử lý chấm dứt hợp đồng.
- Người lao động: nắm bắt các điều kiện nghỉ việc không cần lý do, các trường hợp được nghỉ ngay không cần báo trước để bảo vệ quyền lợi cá nhân.
- Điểm đáng tham khảo nhất của văn bản là phần phân tích Bản án số 69/2019/LĐ-ST tại mục 2.2 Chương 2 và các lập luận kỹ thuật sửa đổi điều luật tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo BLLĐ năm 2019, người lao động có bắt buộc phải nêu lý do khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?
Không. Theo phân tích tại mục 2.1 Chương 2 của khóa luận, Điều 35 BLLĐ năm 2019 đã bãi bỏ yêu cầu phải có lý do (vốn bị ràng buộc tại Điều 37 BLLĐ năm 2012). Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do, chỉ cần đáp ứng điều kiện về thời hạn báo trước theo quy định.
2. Người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước trong những trường hợp nào?
Khoản 2 Điều 35 BLLĐ năm 2019 quy định 07 trường hợp người lao động không cần báo trước, bao gồm: không được bố trí đúng công việc, địa điểm hoặc điều kiện làm việc; không được trả đủ lương hoặc trả lương chậm; bị ngược đãi, đánh đập, nhục mạ, cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định y tế; đủ tuổi nghỉ hưu; người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết hợp đồng.
3. Bản án số 69/2019/LĐ-ST chỉ ra bài học pháp lý nào cho người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng vì lý do nhân viên không hoàn thành công việc?
Bản án cho thấy người sử dụng lao động không thể tùy tiện cho thôi việc người lao động với lý do không đạt yêu cầu nếu doanh nghiệp chưa xây dựng và ban hành quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc (phải có ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở), đồng thời không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định pháp luật.
4. Khóa luận kiến nghị sửa đổi thời hạn báo trước của người sử dụng lao động đối với hợp đồng dưới 12 tháng như thế nào?
Tác giả đề xuất tại mục 3.2 Chương 3 về việc sửa đổi điểm c Khoản 2 Điều 36 BLLĐ năm 2019: nâng thời hạn báo trước của người sử dụng lao động đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn dưới 12 tháng từ ít nhất 03 ngày làm việc lên ít nhất 15 ngày làm việc để người lao động có đủ thời gian tìm kiếm công việc mới bảo đảm thu nhập.
5. Vì sao tác giả đề xuất tính trợ cấp thôi việc dựa trên thu nhập thực tế thay vì tiền lương theo hợp đồng lao động?
Theo phân tích tại mục 3.3 Chương 3, thực tế nhiều doanh nghiệp có thỏa thuận chi trả thu nhập thực tế cao hơn mức tiền lương ghi trong hợp đồng lao động. Nếu tính trợ cấp dựa trên tiền lương hợp đồng sẽ gây thiệt thòi cho người lao động, không tương xứng với công sức lao động thực tế mà họ đã đóng góp.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thiên Hương đã hệ thống hóa toàn diện các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về chế định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, làm rõ những điểm mới tiến bộ của BLLĐ năm 2019 so với BLLĐ năm 2012. Thông qua việc phân tích thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn tranh chấp tại Tòa án trong bối cảnh thị trường lao động bị tác động bởi đại dịch Covid-19, công trình đã chỉ ra nhiều điểm hạn chế, mơ hồ trong các quy định hiện hành. Từ đó, tác giả xây dựng được 06 nhóm kiến nghị lập pháp cụ thể, có căn cứ thực tế và giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác hoàn thiện thể chế pháp luật lao động.