CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VÊ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG 1. Khái niệm, đặc điểm về tranh chấp lao động 1. Khái niệm Đe hiểu tranh chấp lao động là gì trước hết cần hiểu thế nào là “tranh chấp” và “lao động”. Từ điển Tiếng Việt có đưa ra cách hiếu như sau: “Tranh chấp ỉà đấu tranh giằng co khi có ỷ kiến bat đồng, thường là trong van đề ỉợi ích giữa hai bên ”] còn “Lao động ỉà hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sân phẩm vật chất và tình thần cho xã hội ”2, có thể thấy Từ điên Tiếng Việt tiếp cận lao động dưới góc độ đó là công việc chứ không phải là mối quan hệ.
Qua các cách hiểu này có thể hiểu, tranh chấp lao động đó là mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích giữa các bên trong quá trình tạo ra sản phâm cho xã hội, hay nói cách khác đó là bất đồng trong quan hệ lao động. Dưới góc độ pháp lý, TCLĐ là một quá trình pháp luật xử lý những mâu thuần phát sinh trong quá trìnli làm việc, bao gồm sự không hài lòng, tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ về quyền lợi, nghĩa vụ, hoặc điều khoản làm việc. Đây là một phần quan trọng của quy trình, với mục tiêu giải quyết các bất đồng một cách công bang, tiling lập và có lợi cho cả hai bên. Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa qua quan diêm: “Tranh chấp ìao động ỉà ìoại tranh chap về các van đề ỉiên quan đến quá trình ỉao động, tức ĩà quá trình xác ỉập, duy trí, chấm dứt mối quan hệ ỉao động giữa các bên.
tức ìà những van đề ỉiên quan đến quyền, ỉọi ích của các bên gồm NLĐ và NSDLĐ“3. Với quan điểm này có thể thấy, về cơ bản tranh chấp 1 Hoàng Phê (2003). Từ điên Tiếng Việt. Nhà xuật bân Đà Nằng, tr 1024 2 Hoàng Phê (2003).
Từ điển Tiéng Việt. Nhà xuất bân Đà Nằng, tr 545 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Lao động - tập 2. Nhà xuất bán Công an nhân dân. Tr 446 9 lao động đó là mâu thuẫn trong quá trình làm việc giữa NLĐ và NSDLĐ về lợi ích của các bên trong quá trình này.
Trên thế giới, khái niệm TCLĐ lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật TCLĐ của Anh năm 1906 theo đó: “TCLĐ (trade dispute) có nghĩa là bất kỳ tranli chấp nào giữa NSDLĐ và NLĐ hoặc giữa NLĐ và NSDLĐ liên quan đến việc tuyên dụng lao động hoặc liên quan đen các điều kiện lao động của bất kỳ người nào”4 Khái niệm tranh chấp lao động hiện nay được định nghĩa tại điều 179 Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 như sau: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, ỉợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ ỉao động; tranh chấp giữa các tố chức đại diện ngưòi ìao động vói nhau; tranh chap phát sinh từ quan hệ có ĩiên quan trực tiếp đen quan hệ ỉao động"5. Định nghĩa này cho thấy, TCLĐ phát sinh trong quan hệ lao động đã được BLLĐ năm 2019 quy định rõ ràng có thê phát sinh trong quá trình xác lập, thực tiền, chấm dứt quan hệ lao động hoặc quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Ngoài ra, BLLĐ năm 2019 cùng bổ sung và xác định rõ một số tranh chấp tuy không phát sinh giừa các chủ thể của quan hệ lao động nhưng vẫn được xác định là TCLĐ, đó là tranh chấp giữa NLĐ thuê lại với NSDLĐ thuê lại, một hay nhiều tổ chức đại diện NLĐ với NSDLĐ hoặc một hay nhiều tô chức của NSDLĐ. Tác giả thống nhất với khái niệm được đưa ra tại điều 179 BLLĐ 2019.
Thông qua khái niệm và quy định tại Điều 179 BLLĐ 2019 có thê phân loại tranh chấp lao động như sau: Thứ nhất, dựa vào chủ thể tranh chấp lao động có thể phân loại thành tranh chấp lao động tập thê và tranh chấp lao động cá nhân, nói cách khác là tranh chấp này mang tính tập thể hay cá nhân, tập thể ở đây có thể là tập thể 4 Trần Thị Mai Loan (2017). Pháp luật về giãi quyết tranh chấp lao động tập thể: Những vấn đề lý luận và thực tiễn. Học viện Khoa học và xà hôi. Tr 28 5 Bộ luật Lao động 2019 10 NLĐ, còn cá nhân có thê xác định là cá nhân NLĐ.
Việc xác định là cá nhân hay tập the NLĐ trong tranh chấp thi can xác định cụ thể số lượng NLĐ tham gia tranh chấp, bời lẽ, ngay chính khái niệm của nó, TCLĐ cá nhân là tranh chấp của bân thân cá nhàn NLĐ, hay nói cách khác chỉ có một NLĐ tham gia vào tranh chấp. Còn tập thê NLĐ có cần xác định số lượng NLĐ hay không thì hiện nay chưa có quy định nào xác định về yếu tố số lượng NLĐ trong TCLĐ tập thể, hay nói cách khác số lượng NLĐ tham gia tranh chấp chỉ phản ánh về hiện tượng bên ngoài, quan trọng phải xác định được tính tập thế của những cá nhân NLĐ tham gia tranh chấp biêu hiện thông qua yêu cầu quyền và lợi ích phải thống nhất và yêu cầu đó liên quan đến quyền và lợi ích của cả tập thê NLĐ. Thứ hai, dựa vào nội dung của tranh chấp có thê phân loại thành TCLĐ có liên quan đến việc làm, đến tiền lương, HĐLĐ, hình thức kỷ luật. TCLĐ bao giờ cũng liên quan đến quyền và lợi ích của NLĐ nói chung và của cả NSDLĐ ờ một kliía cạnh nào đó.
Quyền và lợi ích trong TCLĐ chủ yếu là những mâu thuẫn, bất đồng về việc xác lập, thay đôi điều kiện lao động của NLĐ (tiền lương, thời giờ làm việc - thời giờ nghi ngơi, an toàn lao động - vệ sinh lao động, ký kết thỏa ước lao động tập thê). Thứ ba, dựa vào đối tượng của tranh chấp có thể phân loại thành tranh chấp về quyền và tranh chap về lợi íchổ. Nói cách khác đó là tranh chấp về những van đề được pháp luật quy định (nói cách khác là quyền) và tranh chấp về những vấn đề do các bên thỏa thuận (còn gọi là lợi ích). Đặc điểm về tranh chấp lao động Tỉ.
Tranh chấp lao động phát sinh tồn tại gẳn liền vói quan hệ lao động 6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trinh Luật Lao độug - tập 2. Nhà xuất bán Công an nhân dân. Tr 456 11 Mối quan hệ tranh chấp được thế hiện qua hai đặc điếm sau: các bên tranh chấp luôn là chủ thể của quan hệ lao động trong kill chủ thể của tranh chấp chỉ là đối tượng trong quan hệ lao động. Quá trình thực hiện quan hệ lao động có nhiều nguyên nhân khiến cho việc không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đã được thỏa thuận ban đầu.
Ví dụ, một trong hai bên đã tập tiling quá nhiêu vào lợi ích cá nhân, các điều kiện trong hợp đồng đà thay đôi, dẫn đến việc những cam kết ban đầu không còn hiệu lực. Hoặc cũng có trường hợp khi trình độ soạn thảo hợp đồng và sự hiểu biết về luật pháp bị giói hạn, dẫn tới việc các bên không tuân theo các điều khoản pháp lý mà họ đã cam kết trong hợp đồng. Tranh chấp giừa quyền lọi của các bên trong moi quan hệ ỉao động Thực tế, hầu hết các tranh chấp dân sự và tranh chấp thương mại đều bắt nguồn từ vấn đề pháp luật bị vi phạm, họp đồng bị vi phạm hoặc việc không hiểu biết đúng đắn giữa các quyền lợi và nghĩa vụ đã được thiết lập có thể dẫn đến tranh chấp. Nhưng đối với các tình huống, khả năng xảy ra TCLĐ có thê phát sinh khi không tuân thủ quy định pháp luật.
Tính chất của mồi loại hình quan hệ lao động sẽ được điều chinh bởi pháp luật chịu tác động từ đặc trưng trên. Trong nền kinh te thị trường, các chủ thê của quan hệ lao động được tự do thương lượng, thoả thuận theo pháp luật, ký kết hợp đồng lao động theo luật định của pháp luật cũng như năng lực thích ứng của từng bên. Quá trinh thoả thuận và đàm phán không phải bao giờ cũng mang lại lợi ích như mong đợi. Những điều khoản đã thoả thuận có thê trở nên không hợp lý ngay cả lúc đà có hiệu lực vi các điều kiện mới phát sinh vào khoảng thời gian tranh chấp xây ra.
Quy mô tranh chấp tuỳ thuộc theo tính chất và mức độ cúa tranh chap lao động 12 TCLĐ nếu chỉ nảy sinh giữa một NLĐ và NSDLĐ (đối tượng tranh chấp là quyền, nghĩa vụ, lợi ích chủ yếu liên quan đến một nhóm NLĐ) thì tranh chấp chi thuần tuý là TCLĐCN. Quá trình, tần suất vừa phải nên nó được coi là rất nguy hiêm đối với TCLĐCN. Nhưng nếu cùng một thời điêm có nhiều người đang tranh chấp với NSDLĐ, Những TCLĐ có nhiều yếu tố và đặc biệt khi nhóm NLĐ này đã gắng kết với nhau trở thành một tập thể nhất định nhằm đấu tranh đòi lợi ích tập thê thì nhóm TCLĐ ấy đà có tính chất tập thê. Mức độ ảnh hường của TCLĐ phụ thuộc vào địa bàn xảy ra tranh chấp.
TCLĐ ânh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của cá nhân, gia đình NLĐ, lắm khi có thê ảnh hường đến trật tự xã hội. Đặc điểm trên bắt nguồn từ thực tiền quan hệ lao động là quan hệ giữa nhiều yếu tố có tính chất phô biến trong cuộc sống bao gồm lao động thu nhập, tiền lương, việc làm. Vì vậy, quan hệ lao động có nguy cơ bị phá vờ nếu TCLĐ xảy ra, NLĐ dễ bị mất việc làm, mất thu nhập, mất khả năng bảo đảm đời sống vật chất cho bản thân và gia đinh nên đời sống của họ sẽ bị ảnh hưởng. NSDLĐ và NLĐ sẽ phải mất thời giờ, sức lực vào việc giải quyết mâu thuần nên khiến hoạt động sân xuất kinh doanh bị đình trệ.
Nghiêm trọng hơn, là một khi TCLĐTT xảy ra tại những doanh nghiệp trọng yếu của nên kinh tế quốc dân hoặc an ninh quốc phòng, tại một khu vực hoặc một địa bàn, nó hoàn toàn có thê ảnh hưởng đen việc sản xuất và đời sống xà hội trong toàn bộ một địa phương, hoặc thậm chí ảnh hường đến câ nền kinh tế. Neu không xử lý triệt đê, thì tranh chấp còn ảnh hưởng đến van đề an sinh xà hội của quốc gia. Lý luận về pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động 1.