Chương I Đạo luật Quyền Việc làm 1996 (ERA) cũng quy định rang: “Khi người lao động bắt dau làm việc với người sử dụng lao động, người sử dụng lao động sẽ cung cấp cho các nhân viên một tuyên bố bằng văn bản về các chỉ tiết của việc làm. Tuyên bố này sẽ được người sử dụng lao động cung cap cho người lao động trong vòng muộn nhất là hai tháng kế từ khi họ bắt dau làm việc ” [74]. Từ ngày 06 tháng 04 năm 2020, Quy định về Quyền Việc làm (Sửa đổi khác) 2019 (SI 2019/731) [87] đã mở rộng quyền có văn bản trình bày chi tiết việc làm cho tat cả NLD — “employee” (bao gồm cả “worker”). HDLD có thé bang lời nói, nhưng tất cả NLĐ, dù là bán thời gian hay toàn thời gian, đều có quyền được cung cấp một văn bản nêu rõ các chỉ tiết chính về công việc của họ, miễn là thời gian làm việc của họ kéo dai từ một tháng trở lên.
Đồng thời, NLD có quyền gửi yêu cầu tham chiếu đến tòa án dé xác định những chi tiết đáng lẽ phải được đưa vào hoặc đề cập đến trong văn bản trình bày chỉ tiết trong trường hợp mà văn bản này không cung cấp các thông tin đó. Quy định về Quyền Việc làm (Chi tiết việc làm và nghỉ phép hàng năm có lương) (Sửa đổi) năm 2018 (SI 2018/1378) [85] quy định răng quyền truy cập vào một tuyên bố bằng văn bản là quyền đầu tiên của tat cả NLD (bao gồm cả nhân viên). NSDLD cũng phải cung cấp thông tin bố sung dưới dang nội dung bắt buộc cho một tuyên bố bang văn bản, bao gồm cả liên quan đến thời gian dao tạo và thử việc. Điều này có nghĩa là đối với việc làm bắt đầu vào hoặc sau ngày 06 tháng 04 năm 2020, một nhân viên hoặc NLD phải được cung cấp một tuyên bé băng văn bản về các điều khoản và điều kiện lao động (hợp đồng), cùng với chỉ tiết về bất kỳ thủ tục nào liên 15 quan đến sa thải, kỷ luật và khiếu nại vào thời điểm họ bắt đầu làm việc.
Đối với việc làm bắt đầu trước ngày 06 tháng 04 năm 2020, NLĐ phải được cung cấp một tuyên bố bằng văn bản về các điều khoản và điều kiện làm việc (hợp đồng) cùng với các chỉ tiết của bat kỳ thủ tục nào như trên trong vòng một tháng ké từ khi yêu cầu tuyên bố. Đánh gia Trong khi pháp luật Việt Nam quy định khái niệm về HDLD một cách rat chat chẽ bao gồm cả đối tượng, chủ thé, nội dung để xác định rõ và có thê dễ dàng phân biệt HĐLĐ với các loại hợp đồng khác. Pháp luật Vương quốc Anh lại có một định nghĩa khá ngắn gon và mơ hồ khi giải thích HĐLĐ có thể là “hợp đồng dịch vụ (contract of service) hoặc hợp đồng học nghé, đồng thời nêu ra các hình thức giao kết HDLD. Sự khác biệt về việc quy định khái niệm HĐLĐ chính là đặc điểm thé hiện được đặc trưng của hệ thống pháp luật của hai quốc gia.
Vai trò của Hợp đồng lao động Hợp đồng lao động là một trong những công cụ quản lý lao động hữu hiệu trong doanh nghiệp, là sự thỏa thuận giữa NLD và NSDLD về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Chính do yếu tố quản lý lao động trong HDLD nên dé duy trì, ôn định quan hệ lao động va bảo vệ lợi ích của cả hai bên, nhất là lợi ích của NLĐ, pháp luật lao động hiện hành đã giới hạn quyền quản lý lao động của NSDLD trong HDLD. Có thé thấy vai trò quan trọng của HDLD thể hiện ở: e_ Hợp đồng lao động ghi nhận những cam kết lam cơ sở cho việc thực hiện và đảm bảo các quyền, nghĩa vụ của các bên, thể hiện ý chí của các bên, sự bình đăng, tự do của NLD và NSDLD trong quá trình xác lập và duy trì mối quan hệ lao động, là cơ sở đề thực hiện quản lý nhà nước. e Hợp đồng lao động là cơ sở dé NSDLĐ thực hiện quyền quản lý lao động.
Khi đã giao kết HDLD, NLD đã trở thành người bị quan ly, chỉ có thiết lập quan hệ dựa trên HDLD thì NSDLĐ mới có được quyền quản lý đó. ¢ Hợp dong lao động là cơ sở dé giải quyết các chế độ liên quan đến NLD, đặc biệt là chế độ bảo hiểm xã hội, bởi vì các yếu tố về tiền lương thê hiện trong HDLD là điêu kiện quan trọng đê xác định mức đóng bảo hiêm xã hội của NLD và được sử 16 dụng như là cơ sở căn bản dé tính toán mức đóng và mức hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của NLD. e Hợp đồng lao động là cơ sở dé giải quyết các tranh chấp giữa hai bên trong quan hệ lao động. Đặc biệt, HĐLĐ bằng văn bản vừa đóng vai trò là chứng cứ chứng minh, vừa đóng vai trò là “quy phạm” dé giải quyết các vụ việc tranh chấp.
Lý luận về giao kết hợp đồng lao động Xuất phát từ tầm quan trọng của Hợp đồng lao động trong việc thiết lập và duy tri quan hệ lao động, giao kết hợp đồng lao động được xem là quá trình bắt buộc và quan trọng khi người sử dụng lao động nhận người lao động vảo làm việc. Khái niệm giao kết hợp đồng lao động Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, chưa có một khái niệm chính thức nào về giao kết hợp đồng mà nó chỉ được nói tới như một giai đoạn của hợp đồng mà ở đó pháp luật quy định những điều kiện cần phải có dé hình thành hợp đồng. Có thé hiểu giao kết hợp đồng là giai đoạn thiết lập mối liên hệ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ trao đôi. Các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo tính phủ hợp và an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao kết, hướng dẫn xử sự của các chủ thé trong quá trình giao kết và thiết lập quan hệ hợp đồng hợp pháp.
Giao kết hợp đồng cũng là quá trình tạo ra một hợp đồng mà ở đó có sự thể hiện ý chí của các chủ thể trong thỏa thuận. Bắt đầu quá trình giao kết là đề nghị giao kết và kết thúc là chấp nhận đề nghị giao kết. Quá trình này phải đảm bảo đầy đủ những yếu tố về hình thức và nội dung hợp đồng cũng như những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì mới thực sự hình thành được một hợp đồng. Giao kết hợp đồng gồm bốn đặc trưng: Là quá trình tuyên bố ý chí của các chủ thể trong giao dịch; Chủ thê đầy đủ năng lực để giao kết hợp đồng; Thống nhất ý chí của các bên về nội dung cần trao đổi và giao kết hợp đồng được xác lập đưới hình thức nhất định.
Theo Tiểu mục 1 Mục 7 Chương XV Bộ luật Dân sự 2015 quy định về giao kết hợp đồng: “Giao kết hợp đồng có thể hiểu là các bên thé hiện y chi thỏa thuận về việc xác lập, thay đồi hoặc cham dứt quyên, nghĩa vụ dân sự trên cơ sở tuân thủ 17 các nguyên tắc và quy định của pháp luật cho từng giao kết hợp dong cu thể”.[35] Giao kết hợp đồng là các bên bày tỏ với nhau ý chí về việc xác lập, thay đổi hay cham dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng trên cơ sở tuân theo nguyên tắc do pháp luật quy định. Giao kết hợp đồng được bắt đầu bằng việc một bên đề nghị với bên kia giao kết hợp đồng và đồng thời thường kèm theo nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời han trả lời. Trong trường hợp đó, người đề nghị không được thay đồi, mời người thứ ba trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình. Giao kết hợp đồng lao động là giai đoạn khởi đầu cho sự hợp tác của các bên để tiến tới sự thống nhất ý chí nhằm tạo lập quan hệ lao động.
Vì vậy, dé xác lập được một quan hệ lao động hai hoa, ôn định trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, các bên cần phải có ý thức và thiện chí đặc biệt là ý thức pháp luật và thiện chí khi thương lượng. về bản chất, giao kết hợp đồng lao động có sự tương đồng khá lớn với giao kết hợp đồng dân sự là có sự thỏa thuận, trong đó, các bên bày tỏ và thống nhất ý chí nhằm hướng tới những lợi ích nhất định. Tuy nhiên, hợp đồng lao động có những đặc trưng riêng như: Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả lương; thường do đích danh người ký thực hiện; thỏa thuận của các bên bị giới hạn pháp lý nhất định, ở đó quyền tối thiểu có thể cao hơn nhưng nghĩa vụ là tối đa, thỏa thuận chỉ được thấp hơn; hợp đồng lao động được thực hiện trong thời gian liên tục hoặc có thời hạn hoặc vô thời hạn, bởi đây là việc giao kết thực hiện thỏa thuận mua bán hàng hóa đặc biệt là sức lao động, vì vậy, pháp luật về hợp đồng lao động phải đưa ra những quy định mang tính hợp lý hơn, trong đó, bên bán (người lao động) sẽ được quan tâm nhiều hơn trong việc nghiên cứu và đưa ra quy định luật áp dụng nhằm tạo thế “cân bằng” tương đối giữa họ với bên mua (người sử dụng lao động). Có thể khái quát lại: “Giao kết hợp dong lao động là việc người lao động và người sử dung lao động cùng thương lượng, thỏa thuận về các điều kiện đặt ra và hai bên thống nhất các cam kết thực hiện bằng các điều khoản thé hiện trên hợp dong lao động”.
[1, tr43-47] Từ đó, có thé rút ra rằng: “Giao kết hop dong lao động chính là sự giao kết giữa hai bên đó là bên người lao động và bên người sử dụng lao động nham đưa ra 18 những thương lượng, thỏa thuận về diéu kiện lao động, quyên và nghĩa vụ của các bên,. dé đi đến sự thong nhất và thực hiện xác lập các điều khoản trong hợp dong lao động. Giao kết hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động phải được thực hiện trước khi người sử dụng lao động nhận người lao động vào làm việc. Trong khi đó, theo quan niệm truyền thống pháp luật thông lệ cũng như pháp luật Anh Quốc, vấn đề giao kết hợp đồng liên quan đến các quy định về nghĩa vụ đối ứng, đòi hỏi các bên phải có lời đề nghị giao kết, sự chấp nhận, sự cân nhắc và ý định ràng buộc lẫn nhau.