Lời mở đầu - Nội dung - Két luan CHUONG I - MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN CHAM DUT HOP DONG LAO DONG CUA NGUOI SU DUNG LAO DONG VA PHAP LUAT VE QUYEN CHAM DUT HOP DONG LAO DONG CUA NGUOI SU DUNG LAO DONG 1. QUAN NIEM VE QUYEN CHAM DUT HOP DONG LAO DONG CUA NGUOI SU DUNG LAO DONG 1. Khái niệm về quyền cham dứt hop đồng lao động Quyền nói chung được hiểu là “thé, sức mạnh, lợi lộc được hưởng do pháp luật công nhận hoặc đo địa vị đem lạt” Quyền chủ thể là “cách thức xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiễn hành. Nói cách khác, quyên chủ thể la khả năng của chủ thé xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép.
Nói là khả năng có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiễn hành hoặc không xử sự như vậy. ”° Quyền chấm dứt hợp đồng lao động cũng là một trong các quyền của người sử dụng lao động. Do đó cũng được hiểu là quyền năng mà pháp luật cho phép người sử dụng lao động được chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với người lao động. Quyền chấm dứt hợp đồng bao gồm quyền đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động và quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Trong đó “về mặt lí luận, đơn phương cham ditt hợp đông lao động là hành vi pháp lí trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm chấm đứt quan hệ lao động với bên kia. Ý chi bên này phải được biểu thị ra bên ngoài dưới hình thức nhất định và phải được truyền đạt tới chủ thé đối tác mà không can thiết phải được chủ thể đó chấp thuận. Về nguyên tắc, hình thức dé biểu thị ý chí có ' Nguyễn Như Ý (1998), Đại tir điển Tiếng việt, Nxb Van Hoá- Thông tin, tr. Lê Minh Tâm (chủ biên), (2003), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
448 thể bằng văn bản hay bằng lời nói (miệng). Nếu hình thức văn bản, văn bản đó phải được gửi cho chủ thể bên kia và ý chí cham đứt quan hệ lao động trong đó phải được biểu đạt rõ ràng, cụ thể để người nhận nó là chủ thể đối tác có thể hiểu được. ”” Quyền của người sử dụng lao động trong cham dứt hợp đồng lao động có các đặc trưng cơ bản sau : Đặc trưng thứ nhất: là khả năng của người sử dụng lao động xử sự theo cách thức nhất định trong chấm dứt hợp đồng lao động mà pháp luật cho phép hoặc thừa nhận. Cách thức để chấm dứt hợp đồng lao động tùy thuộc vào quy định của pháp luật mỗi quốc gia, mà theo đó người sử dụng lao động được phép xử sự hay không xử sự trong từng trường hợp cụ thể tương ứng với quy định của pháp luật dé cham dứt hợp đồng lao động với người lao động.
Đặc trưng thứ hai: là khả năng yêu cầu người lao động tôn trọng, tạo điều kiện dé thi hành hoặc yêu cầu người lao động cham dứt các hành động cản trở thực hiện quyền của mình. Đây là đặc trưng thể hiện rõ nét nhất vị thế của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Người sử dụng lao động là một bên chủ thể trong quan hệ pháp luật lao động, chủ thể này có đầy đủ những quyền năng mà pháp luật ghi nhận. Chính vì thế họ có đủ năng lực pháp lý để yêu cầu phía bên kia của quan hệ là người lao động tôn trọng cũng như tạo điều kiện để họ thực hiện được quyền của mình trong phạm vi pháp luật quy định.
Đặc trưng thứ ba: là khả năng của người sử dụng lao động được yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thâm quyền bảo vệ lợi ích của mình. Đặc trưng này là hệ quả tất yếu xuất phat từ hai đặc trưng kể trên. Đó là khi có tranh chấp xảy ra, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu cơ quan có thâm quyền bảo vệ quyền lợi cho mình 3 TS. Dao Thị Hang (2001), “Quyền đơn phương cham dứt hợp đồng lao động”, Tap chí luật hoc, (8), tr.
Phân loại về quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động Cham dứt hợp đồng lao động là sự kiện pháp lý làm kết thúc mối quan hệ của các bên trong quan hệ lao động. Có nhiều cách dé phân chia về quyền cham dứt hợp đồng của người sử dụng lao động. Nếu căn cứ vào tính hợp pháp thì có thể phân chia việc chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động thang hai loại hợp pháp va chấm dứt hợp đồng lao động bat hợp pháp. Cham dứt hợp đồng lao động hợp pháp được hiểu là trường hợp người sử dụng lao động cham dứt hợp đồng lao động có căn cứ và tuân thủ đúng các thủ tục do pháp luật quy định.
Còn cham dứt hợp đồng lao động bat hợp pháp được hiểu là trường hợp chấm dứt hợp đồng không có căn cứ hoặc không tuân thủ đúng các thủ tục do pháp luật quy định hoặc do cả hai. Căn cứ vào tính chất của quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động thì có thé chia làm thành hai trường hợp là quyền đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động và quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Đây cũng chính là hướng nghiên cứu của tác giả khi tiếp cận đề tài. Cụ thể như sau: - Đương nhiên chấm dứt hop dong lao động Đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động được hiểu là trường hợp hợp đồng lao động mặc nhiên chấm dứt khi có một số sự kiện xảy ra.
Sự kiện đó có thé là các bên chủ thé trong quan hệ lao động đã hoàn thành quyền và nghĩa vụ của mình hoặc hết thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng, hoặc có sự kiện pháp lý xảy ra làm châm dứt quan hệ pháp luật theo hợp đồng. - Don phương cham dứt hop đồng lao động “Đơn phương” theo từ điển tiếng Việt là “có tinh chat của một bên, không có sự thoả thuận hoặc tham gia của bên kia”, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi pháp lý trong đó làm cham dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ lao động. Còn theo Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999 thì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc “một bên chủ động quyết định cham ditt việc thực hiện các quyên và nghĩa vụ trong quan hệ lao động mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia. ” Như vậy nếu như đương nhiên chấm dứt hợp đồng là việc chấm dứt dựa trên ý chí của cả hai bên trong quan hệ lao động do hợp đồng lao động hết hạn hoặc do sự kiện pháp lý phát sinh thì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động lại là trường hợp hợp đồng lao động chưa kết thúc, đối tượng là công việc phải làm và chủ thé của hợp đồng này vẫn dang còn tồn tại nhưng người sử dung lao động vẫn quyết định chấm dứt hợp đồng.
Mặt khác việc chấm dứt này là do người sử dụng lao động toàn quyên quyết định không phụ thuộc vào ý chí của người lao động. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là vấn đề phức tạp vì trên thực tế những tranh chấp phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động chủ yếu xuất phát từ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Chính vì vậy vai trò của pháp luật trong vẫn đề điều chỉnh hài hòa giữa quyền và lợi ích của các bên khi cham dứt hợp đồng lao động là rất cần thiết. Pháp luật của các quốc gia trên thế giới có những quan điểm khác nhau về van dé đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động.
Một số quốc gia thì phân định quyền chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động thành hai trường hợp là đương nhiên chấm dứt hợp đồng và đơn phương chấm dứt hợp đồng, chang hạn như Việt Nam, Trung Quốc và một số quốc gia phát triển trên thế giới. Một số quốc gia khác thì có sự khác biệt tương đối rõ, pháp luật lao động của các quốc gia này không phân chia thành đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động hay đơn phương chấm hợp đồng mà quy định quyền của người sử dung lao động được đơn phương cham dứt hợp đồng không ? Toa án nhân dân tối cao (1999), Báo cáo tổng kết công tác ngành tòa án năm 1999 , Hà Nội, tr.74 cần lý do, chắng hạn như pháp luật của Mỹ. Quốc gia này cho phép người sử dụng lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần lý do cụ thể. DIEU CHÍNH PHAP LUẬT VE QUYEN CHAM DUT HỢP DONG LAO DONG CUA NGUOI SU DUNG LAO DONG Quyền cham dứt hop đồng của người sử dung lao động là một trong những van dé rất quan trọng, bởi nó không chỉ liên quan đến việc sử dụng lao động tại các doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến tình trạng việc làm của người lao động.
Tuỳ theo phong tục tập quán, điều kiện kinh tế xã hội mà các quốc gia có sự quy định khác nhau về vấn đề này. Có quốc gia quy định tương đối chặt chẽ nhưng có quốc gia quy định tương đối linh hoạt, song nhìn chung pháp luật các quốc gia thường quy định quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động ở một số nội dung sau: - Căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động - Thủ tục cham dứt hợp đồng lao động - Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng 1. Căn cứ cham dứt hop đồng lao động “Cham ditt HĐLĐ là sự kiện pháp ly mà một hoặc cả hai bên không tiếp tục thực hiện HĐLĐ, cham dứt quyền và nghĩa vụ của hai bên đã thỏa thuận trong HĐLĐ*.Š Trong lao động, trên co sở nhu cầu tuyến dụng của người sử dụng lao động và nhu cầu lao động của người lao động mà hình thành nên mối quan hệ lao động. Các quan hệ lao động được hình thành trên cơ sở hợp đồng.
Vì vậy, hợp đồng lao động là căn cứ phát sinh quan hệ lao động, đồng thời là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người lao động khi phát sinh tranh chấp giữa các bên trong quan hệ này. Xuất phát từ vị thế của các bên trong ° Trường Dai học Luật Hà Nội (1999), 7ờ điển giải thích thuật ngữ luật học (Luật lao động, Luật đất đai, Tư pháp quôc tê) , Nxb Công an nhân dân, tr.