Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ 1. Khái niệm thỏa ước lao động tập thể Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về thương lượng tập thể, Công ước ILO số 154 định nghĩa thương lượng tập thể là đề cập đến: Tất cả các cuộc đàm phán diễn ra giữa một người sử dụng lao động, một nhóm người sử dụng lao động hoặc một hoặc nhiều tổ chức của người sử dụng lao động, mặt khác, và một hoặc nhiều tổ chức của người lao động, cho: Xác định điều kiện làm việc và điều khoản tuyển dụng; Điều chỉnh quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động; Điều chỉnh các mối quan hệ giữa chủ lao động hoặc tổ chức của họ và tổ chức của người lao động hoặc tổ chức của người lao động [28]. Ở Việt Nam, Theo điều 66 BLLĐ năm 2012, “Thương lượng tập thể là việc tập thể lao động thảo luận, đàm phán với người sử dụng lao động nhằm: Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” ; Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thoả ước lao động tập thể; Xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ[16]. Theo điều 65 BLLĐ năm 2019, “Thương lượng tập thể là việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện NLĐ với một bên là một hoặc nhiều NSDLĐ hoặc tổ chức đại diện NSDLĐ nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định” [17].
Như vậy BLLĐ năm 2019 đã mở rộng chủ thể tham gia thương lượng so với BLLĐ năm 2012. Đây là cơ sở để người sử dụng lao động thỏa thuận với NLĐ thông qua người đại diện là tổ chức công đoàn để xác lập một thỏa thuận được 6 Luan van thống nhất giữa hai bên về điều kiện lao động, chế độ tiền lương, những quyền và lợi ích hợp của các bên theo quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời cũng xem xét thỏa thuận về những quyền và lợi ích cao hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật nhưng không làm ảnh hưởng đến lợi ích của DN. Thỏa ước lao động tập thể được xác lập bằng văn bản, thông qua quá trình thương lượng giữa hai bên chủ thể: tập thể lao động và NSDLĐ. Nội dung TƯLĐTT chứa đựng các quy định về điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể.
Vì vậy, nội dung của TƯLĐTT không hoàn toàn trùng với các nội dung thương lượng tập thể quy định tại Điều 70 BLLĐ, mà chỉ bao gồm những nội dung các bên đã thương lượng thành. Tức là, nội dung TULĐTT phải bảo đảm được 3 điều kiện: Thuộc các nội dung thương lượng tập thể; Không được trái với quy định của pháp luật và phải có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật, nghĩa là các quyền lợi của NLĐ phải cao hơn những quy định tối thiểu, các nghĩa vụ phải thấp hơn các quy định tối đa trong hành lang BLLĐ quy định; Nội dung này phải có đa số (trên 50%) số người của tập thể lao động (đối với thỏa ước doanh nghiệp) hoặc số đại diện Ban chấp hành công đoàn (đối với thỏa ước ngành) biểu quyết tán thành. Phân loại thỏa ước lao động tập thể Theo khoản 1 điều 73 BLLĐ năm 2012 TƯLĐTT gồm: (i) TƯLĐTT doanh nghiệp, (ii) TƯLĐTT ngành, (iii) các hình thức TƯLĐTT khác do Chính phủ quy định. Theo khoản 1 điều 75 BLLĐ năm 2019 TƯLĐTT gồm: (i) TƯLĐTT doanh nghiệp, (ii) TƯLĐTT ngành, (iii) có nhiều DN và các TƯLĐTT khác.
Trong BLLĐ năm 2019 có mở rộng thêm loại hình TƯLĐTT có nhiều DN, điều này đã phù hợp với xu thế phát triển trong thời gian tới. Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp Theo quy định tại khoản 1 điều 83 BLLĐ năm 2012 TƯLĐTT doanh nghiệp được ký kết bởi: bên tập thể lao động là đại diện tập thể lao động tại cơ sở và bên người sử dụng lao động là NSDLĐ hoặc người đại diện của NSDLĐ. Đặc điểm của loại hình thỏa ước này là phổ biến, dễ thực hiện tuy nhiên với loại hình này người đại diện cho người lao động khó phát huy được khả năng thương lượng, không thể thỏa thuận theo chứng kiến của mình do phụ thuộc vào NSDLĐ. Thỏa ước lao động tập thể ngành Theo quy định tại khoản 1 điều 87 Bộ luật lao động năm 2012, Đại diện ký kết TƯLĐTT ngành được quy định như sau: bên tập thể lao động là Chủ tịch công đoàn ngành và bên NSDLĐ là đại diện của tổ chức đại diện NSDLĐ đã tham gia thương lượng tập thể ngành.
Đặc điểm của loại thỏa ước này là người lao động trong các doanh nghiệp có cùng ngành với nhau, có liên hệ với nhau về tính chất công việc, điều kiện lao động, về các tiêu chuẩn chung sẽ được áp dụng chung cho nhóm doanh nghiệp đó, đây được xem là một cam kết chung về các chính sách trong sử dụng lao động, tạo sự thống nhất chung. Hiện nay Việt Nam đang thành công trong TƯLĐTT ngành dệt may [19], là cơ sở để mở rộng cho các ngành khác trong tương lai. Thỏa ước lao động tập thể khác do chính phủ quy định Theo quy định tại khoản 1 điều 73 Bộ luật lao động năm 2012 có quy định hình thức TƯLĐTT khác do Chính phủ quy định, hiện nay Chính phủ chưa có quy định mới nào về hình thức TƯLĐTT khác, trên thực tiễn nhiều 8 Luan van địa phương đã thực hiện TƯLĐTT nhóm DN cụ thể: Theo Trung tâm hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, thuộc Cục QHLĐ và tiền lương. Tính đến ngày 6/11/2018, các TƯLĐTT nhóm DN đã được ký kết gồm: TƯLĐTT nhóm DN thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam ký kết ngày 28/3/2014 với 35 DN tham gia và có thời hạn áp dụng 2 năm.
Ngày 19/6/2016, Công đoàn Khu kinh tế Hải Phòng đã thực hiện việc ký TƯLĐTT nhóm gồm 5 DN Hàn Quốc, thuộc KCN Tràng Duệ (Hải Phòng) lĩnh vực điện tử, có thời hạn áp dụng là 2 năm. TƯLĐTT nhóm các DN du lịch, dịch vụ ở Đà Nẵng với 4 DN tham gia; ký kết ngày 14/1/2016; có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/3/2016; thời hạn là 2 năm. TƯLĐTT nhóm các DN dệt may ở Quận 12 TPHCM ký kết ngày 28/12/2015 với 4 DN tham gia, có thời hạn là 2 năm. LĐLĐ thành phố Hạ Long (Quảng Ninh) tổ chức ký TƯLĐTT nhóm các DN du lịch, dịch vụ trên địa bàn thành phố Hạ Long ký kết ngày 5/6/2018 với 20 DN tham gia [13].
Liên đoàn lao động thành phố Hạ Long tổ chức hội nghị sơ kết một năm thực hiện TƯLĐTT nhóm doanh nghiệp du lịch, dịch vụ thành phố Hạ Long. Bản TƯLĐTT nhóm lần đầu tiên được ký kết vào đầu tháng 6/2018 gồm có 20 doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực du lịch, dịch vụ trên địa bàn thành phố Hạ Long. Sau một năm triển khai, 100% doanh nghiệp cam kết thực hiện nội dung điều khoản trong bản TƯLĐTT nhóm. Các quy định về tiền lương, việc làm, chế độ thưởng, thăm hỏi, ốm đau, hiếu, hỉ được người sử dụng lao động thực hiện nghiêm túc với 3.600 lao động được hưởng lợi; ý thức làm việc, trách nhiệm của người lao động được nâng cao, mối quan hệ lao động hài hòa ổn định.
Trong số 20 DN tham gia TƯLĐTT nhóm, có 8/20 9 Luan van DN đạt danh hiệu DN giỏi cấp thành phố; 4/20 đơn vị đạt danh hiệu DN giỏi cấp tỉnh. Liên đoàn lao động TP Hạ Long đã mời bổ sung thêm 8 doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, tàu du lịch tham gia TƯLĐTT nhóm. Nâng tổng số có 28 doanh nghiệp tham gia TƯLĐTT nhóm du lịch, dịch vụ TP Hạ Long [25]. Việc TƯLĐTT nhóm là xu thế chung, theo Trưởng ban Quan hệ lao động, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Ngọ Duy Hiểu: Việc ký TƯLĐTT nhóm là xu thế chung [14].
Thời gian tới, để có thể ký các TƯLĐTT nhóm DN có nhiều điều khoản có lợi hơn cho NLĐ, các đơn vị thực hiện cần tập trung vào TƯLĐTT đang có, bổ sung và nâng cao lợi ích cho NLĐ; tuyên truyền cho chủ sử dụng lao động về Tổ chức Công đoàn và lợi ích khi DN tham gia TƯLĐTT nhóm. Cần phát huy sức mạnh tổng hợp, cùng với cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương, cộng đồng DN, tuyên truyền về lợi ích khi tham gia ký thỏa ước sẽ hiệu quả hơn nhiều trong việc vận động, tuyên truyền để các DN ký TƯLĐTT nhóm. TƯLĐTT của nhóm DN giúp các DN cùng nhóm ngành nghề liên kết chặt chẽ trong việc chăm lo đời sống NLĐ. Hầu hết những TƯLĐTT nhóm đều được ký kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành nghề và cùng khu vực địa lý.
Điều này cho thấy rõ đặc điểm cơ cấu công đoàn: các đông đoàn ngành chỉ chịu trách nhiệm về số người lao động trong các ngành công nghiệp, phần lớn chủ yếu trực thuộc công đoàn địa phương. Với loại hình TƯLĐTT nhóm có thể áp dụng theo khu vực địa lý hoặc theo khu công nghiệp, khu chế xuất. Vai trò của thỏa ước lao động tập thể 10 Luan van Thỏa ước lao động tập thể đóng góp vai trò vô cùng to lớn trong doanh nghiệp khi nó thừa nhận quyền của NLĐ thông qua tổ chức đại diện cho họ gọi là công đoàn. Công đoàn là nơi sẽ thiết lập những điều kiện lao động có lợi nhất cho NLĐ trong khuôn khổ quy định của luật lao động, vừa đảm bảo được tính hợp pháp, vừa đáp ứng được các yếu tố cơ bản về nhân quyền.
Chính bởi lẽ đó mà TƯLĐTT có vị trí vô cùng quan trọng đối với NLĐ nói riêng và với DN nói chung. Thứ nhất: TƯLĐTT được hình thành thể hiện sự thỏa thuận, thống nhất giữa các bên trên tình thần tự nguyện, bình đẳng, các bên có trách nhiệm phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đã được cụ thể hóa trong quá trình thỏa thuận theo quy định của pháp luật lao động, NSDLĐ và NLĐ tuân theo và được xem như bản quy ước có sự ràng buộc về pháp lý buộc các bên phải thực hiện, không ai được quyền thay đổi nhằm tránh ảnh hưởng đến người lao động cũng như ảnh hưởng đến hoạt động của DN. Thứ hai: TƯLĐTT là nền tảng tạo ra mối quan hệ lao động hài hòa giữa NLĐ và NSDLĐ, dựa trên các nội dung đã thỏa thuận để giải quyết các mối quan hệ lao động hạn chế được những vấn đề cạnh tranh trong quan hệ lao động.