Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học (mã số: 9 31 03 01) với đề tài "Sự tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước ở Hà Nội" do nghiên cứu sinh Lâm Văn Đoan thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của TSKH. Bùi Quang Dũng và TS. Bùi Sỹ Lợi.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bảo hiểm xã hội (BHXH) giữ vị trí trụ cột căn bản trong hệ thống an sinh xã hội (ASXH) của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, chủ trương mở rộng diện bao phủ BHXH đã được khẳng định qua nhiều kỳ Đại hội Đảng và được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 28-NQ/TW (năm 2018) về cải cách chính sách BHXH với mục tiêu hướng tới BHXH toàn dân. Tuy nhiên, số liệu thực tế đến cuối năm 2017 cho thấy tỷ lệ bao phủ BHXH tại Việt Nam vẫn ở mức thấp: chỉ có 30,4% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, còn khoảng 69,9% (tương đương 34 triệu người) chưa tham gia. Đối với BHXH bắt buộc, dù quy định pháp luật ước tính bao phủ khoảng 17 triệu người nhưng thực tế mới đạt 13,59 triệu người (chiếm 29% lực lượng lao động trong độ tuổi). Đối với BHXH tự nguyện, sau 10 năm triển khai mới có khoảng 291 nghìn người tham gia, tương đương 0,7% lao động phi chính thức. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) dự báo nếu không cải cách, đến năm 2030 sẽ có trên 38,7 triệu người trong độ tuổi lao động (chiếm 62% lực lượng lao động) không được bảo vệ bởi BHXH.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tiễn: về mặt lý thuyết pháp lý, tính chất bắt buộc của chính sách BHXH đã loại bỏ quá trình ra quyết định tham gia hay không tham gia khỏi phần lớn các nghiên cứu về chính sách xã hội. Tuy vậy, trong thực tế khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, mức độ tuân thủ pháp luật còn thấp, công tác thực thi còn hạn chế, và doanh nghiệp sử dụng nhiều chiến thuật lách luật để cắt giảm chi phí. Trong khi đó, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh tế, pháp luật, quản lý thu hoặc tập trung vào BHXH tự nguyện và lao động khu vực phi chính thức; thiếu vắng các công trình xã hội học đi sâu phân tích hành vi và hệ yếu tố tác động đến sự tham gia BHXH bắt buộc của người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích thực trạng sự tham gia BHXH của người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở Hà Nội; làm rõ các yếu tố tác động tới sự tham gia này; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tại khối doanh nghiệp này, góp phần bảo đảm ASXH cho người lao động.

Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu tổng quan làm rõ những đóng góp và khoảng trống từ các công trình trước; hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, khái niệm và phương pháp luận về ASXH, BHXH, doanh nghiệp ngoài nhà nước, quan hệ lao động; áp dụng các lý thuyết xã hội học để giải thích hành vi tham gia BHXH của người lao động.
  2. Dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực tế, nhận diện thực trạng tham gia BHXH của người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Hà Nội.
  3. Phân tích các yếu tố tác động tới sự tham gia BHXH của người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước.
  4. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy mở rộng diện đối tượng tham gia BHXH trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia BHXH của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước.
  • Khách thể nghiên cứu: Người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước (bao gồm người đã tham gia và người chưa tham gia BHXH), người sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp), và cán bộ cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực BHXH.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được cập nhật từ năm 2016 đến năm 2019; thời gian khảo sát định tính bổ sung được tiến hành từ tháng 5/2019 đến tháng 12/2019.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào sự tham gia chính sách BHXH bắt buộc theo Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (gồm các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất). Luận án không nghiên cứu chính sách bảo hiểm thất nghiệp do chính sách này được điều chỉnh riêng bởi Luật Việc làm năm 2013 với đối tượng, mức đóng và chế độ thụ hưởng có tính đặc thù gắn với thị trường lao động tích cực.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Thực trạng tham gia BHXH của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Những yếu tố nào tác động tới việc tham gia BHXH của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước?
  • Câu hỏi 3: Các giải pháp nào giúp thúc đẩy sự tham gia BHXH của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước?

Tác giả đưa ra 3 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Loại hình doanh nghiệp ảnh hưởng tới việc tham gia BHXH của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước.
  • Giả thuyết 2: Ngành nghề sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng tới việc tham gia BHXH của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước.
  • Giả thuyết 3: Quy mô lao động của doanh nghiệp ảnh hưởng tới việc tham gia BHXH của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Khung phân tích của đề tài

Khung phân tích đặt sự tham gia và chưa tham gia BHXH của người lao động trong mối tương tác đa chiều thuộc bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội:

  • Bối cảnh vĩ mô: Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về kinh tế - xã hội, thị trường lao động và cải cách hệ thống ASXH.
  • Nhóm yếu tố chính sách và quản lý: Pháp luật BHXH bắt buộc, chế tài xử phạt, công tác quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện.
  • Nhóm yếu tố thuộc về người lao động: Đặc điểm nhân khẩu xã hội (giới tính, độ tuổi, học vấn, tiền lương, nghề nghiệp/công việc, hộ khẩu, nơi cư trú) và nhận thức về BHXH, ASXH.
  • Nhóm yếu tố thuộc về doanh nghiệp và công đoàn: Nhận thức của chủ sử dụng lao động, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề sản xuất kinh doanh, quy mô lao động, việc thành lập và hoạt động của công đoàn cơ sở.
  • Quan hệ lao động trong doanh nghiệp: Mối tương tác giữa người sử dụng lao động và người lao động/tổ chức đại diện người lao động.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Chương tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 cụm nội dung chính:

Nghiên cứu về lý thuyết và mô hình an sinh xã hội

Về mặt lịch sử thuật ngữ, Đinh Công Tuấn & Đinh Công Hoàng (2013) ghi nhận thuật ngữ ASXH lần đầu xuất hiện trong Đạo luật An sinh Xã hội do Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt ban hành năm 1935, thiết lập hệ thống chuyển khoản thu thuế từ năm 1937 và chi trả từ năm 1940. Sau đó, thuật ngữ được ghi nhận trong Hiến chương Đại Tây Dương (1941) và Công ước về quy phạm ASXH của ILO (1952). Về cách hiểu, Anthony Hall & James Midgley (2004) xem ASXH tại Mỹ tập trung vào hưu trí và khuyết tật; Martin Evans và các cộng sự (2007) cho rằng ở Việt Nam ASXH chủ yếu là BHXH; Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng (2005) định vị cách dịch tương đương; Lê Ngọc Hùng (2017) phân tích nội hàm rộng tại Vương quốc Anh gồm duy trì thu nhập và trợ cấp trẻ em; Nguyễn Hải Hữu (2006) và bài viết của nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xác định bản chất ASXH là hệ thống chính sách bảo vệ mức sống tối thiểu trước rủi ro.

Về mô hình ASXH, luận án tổng lược mô hình Bắc Âu (kinh tế thị trường xã hội, bình đẳng phổ quát), mô hình Anh - Mỹ (ưu thế thị trường, tối đa hóa lợi nhuận), mô hình Trung Quốc và các nước đang phát triển (gắn với xóa đói giảm nghèo), mô hình Ngân hàng Thế giới (nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro). ILO (1952) đưa ra mô hình sàn ASXH 3 tầng: sàn tối thiểu, tầng bắt buộc (dựa trên đóng góp), và tầng tự nguyện. Lê Ngọc Hùng & Bùi Thị Phương (2016) coi ASXH là bộ phận cấu thành chính sách công; Mai Huy Bích (2011) phân chia 4 mô hình (cơ bản, mục tiêu, nghiệp đoàn, bao quát); Nguyễn Thị Lan Hương và cộng sự (2013) tiếp cận mô hình 3 trụ cột (trợ giúp xã hội, BHXH, việc làm) và mô hình 3P (phòng ngừa, bảo vệ, thúc đẩy); Ban Tuyên giáo Trung ương (2017) xác định cấu trúc hệ thống ASXH Việt Nam gồm 3 trụ cột: BHXH (gồm BHYT, BHTN), Ưu đãi xã hội, và Bảo trợ xã hội.

Nghiên cứu thực tiễn an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội

  • Thực tiễn ASXH: Mai Ngọc Cường (2006) trong đề tài KX.02/06-10 và Nguyễn Hải Hữu (2006) phân tích cơ sở khoa học hoàn thiện chính sách ASXH; Nguyễn Trọng Đàm & Đặng Nguyên Anh (2013) nêu thực trạng hệ thống cồng kềnh với hơn 230 văn bản pháp quy; Nguyễn Thị Lan Hương (2013) nghiên cứu phát triển hệ thống đến 2020; UNDP (2015) chỉ ra hệ thống ASXH theo vòng đời ở Việt Nam "bỏ sót nhóm giữa" (tập trung trẻ em và người già, ít quan tâm lao động trong độ tuổi); ILO (2013) nghiên cứu mở rộng BHXH cho công nhân độc lập.
  • Thực tiễn BHXH: Khái niệm được luật hóa tại Luật BHXH 2014, Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 và Mạc Tiến Anh (2005). Các nghiên cứu quản lý và chính sách gồm Đỗ Văn Sinh (2005) về quản lý quỹ; Phạm Trường Giang (2010) về cơ chế thu và chế tài xử phạt thấp; Ngân hàng Thế giới (2012) chỉ ra thách thức già hóa dân số, bao phủ thấp, thiếu bền vững tài chính; đề án của BHXH Việt Nam đánh giá cân đối quỹ giai đoạn 1995-2010; Dương Văn Thắng (2014) lược sử ngành BHXH. Về thực trạng tham gia, Phạm Thị Lan Phương & Nguyễn Văn Song (2014) khảo sát 200 lao động tại Vĩnh Phúc; Báo cáo của ILO và Tổng cục Thống kê (2016) chỉ ra 97,9% lao động phi chính thức không có BHXH; Viện Công nhân và Công đoàn (2016) điều tra 1.040 mẫu tại Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc; VCCI (2016) khảo sát khó khăn của doanh nghiệp FDI; các nghiên cứu của Lê Văn Long (2017), Phạm Thanh Tùng (2017), Nguyễn Quốc Doanh (2017), Hồ Phương (2018), và số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê (2017, 2018, 2019).
  • Nghiên cứu quốc tế: BSR (2016) và Jeanette Yu (2019) nghiên cứu chính sách BHXH Trung Quốc và áp lực chi phí của doanh nghiệp; OECD (2018) dẫn nghiên cứu của Rand & Torm (2012), Lee & Torm (2017) chứng minh doanh nghiệp có tỷ lệ đóng bảo hiểm cao đạt doanh thu và lợi nhuận trên mỗi công nhân cao hơn; nghiên cứu tại Uruguay (2014) về tác động mở rộng bảo hiểm y tế tới việc làm chính thức; Rena Eichler & Elizabeth Lewis (2019) xây dựng công cụ đánh giá SIAT.

Các yếu tố tác động đến sự tham gia bảo hiểm xã hội

Các công trình thực nghiệm xác định nhiều chiều kích tác động:

  • Trương Thị Phượng (2012) và Nguyễn Quốc Bình (2013) vận dụng Lý thuyết Hành vi dự định (TPB) chỉ ra 7 nhân tố ảnh hưởng tham gia BHXH tự nguyện, trong đó tuổi và thu nhập có quan hệ mạnh nhất.
  • Đặng Nguyên Anh (2012), Trần Nguyệt Minh Thu (2014) nhấn mạnh tình trạng việc làm bấp bênh, chủ doanh nghiệp tìm cách trốn tránh đóng BHXH bắt buộc.
  • Bùi Sỹ Lợi (2016) chỉ ra các yếu tố cản trở người lao động hợp đồng từ 1 đến dưới 3 tháng tham gia BHXH: mức đóng cao (44,6%), thủ tục tham gia phức tạp (33,4%), thủ tục giải quyết chế độ phiền hà (29,2%).
  • Phạm Văn Quyết và cộng sự (2017) chứng minh rào cản hộ khẩu hạn chế sự hòa nhập ASXH của lao động nhập cư đô thị; 57,3% lao động nhập cư có hợp đồng trong khu vực chính thức vẫn bị chủ sử dụng lách luật qua hợp đồng ngắn hạn, thời vụ.
  • Nyland và cộng sự (2011), Rice (1966), Woodbury (1983) nhận định BHXH là công cụ phi tiền lương thu hút lao động tay nghề cao; Johanna Rickne (2012) chỉ ra doanh nghiệp tư nhân phản ứng nhạy bén hơn khu vực nhà nước bằng việc đóng BHXH khi thị trường khan hiếm lao động; Xian H. (2014) nhấn mạnh yếu tố năng lực quản lý nhà nước; Sarah Alkenbrack và cộng sự (2015) khảo sát 130 công ty tại Lào cho thấy doanh nghiệp dưới 20 lao động ít tham gia hơn doanh nghiệp từ 60 lao động trở lên, ngành thương mại tuân thủ tốt hơn xây dựng, dịch vụ; Mandigma (2016) và Rebecca Holmes & Lucy Scott (2016) phân tích rào cản giới và thể chế.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Các công trình trước đây hoặc thuần túy tiếp cận từ quản lý thu, kinh tế học, pháp luật học, hoặc tập trung vào khu vực phi chính thức và BHXH tự nguyện. Vắng bóng các nghiên cứu xã hội học phân tích toàn diện việc tham gia BHXH bắt buộc của người lao động trong khối doanh nghiệp ngoài nhà nước dựa trên sự kết hợp giữa cơ sở dữ liệu lớn cấp hành chính (dữ liệu BHXH thành phố và điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê) với phương pháp xã hội học định tính (phỏng vấn sâu các bên liên quan). Luận án định vị giải quyết khoảng trống này tại địa bàn cụ thể là thành phố Hà Nội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án làm rõ các khái niệm công cụ:

  • An sinh xã hội: Tiếp cận theo định nghĩa của Hiến chương Liên Hợp Quốc (1948), Ngân hàng Thế giới, Beveridge (1879-1963) và ILO (với 9 chế độ an sinh: y tế, ốm đau, thất nghiệp, tuổi già, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, gia đình, thai sản, tàn tật, tử tuất). Luận án đồng thời phân tích định nghĩa của các tác giả trong nước như Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Hải Hữu, Mai Ngọc Cường.
  • Bảo hiểm xã hội: Sử dụng khái niệm tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; phân biệt BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
  • Doanh nghiệp ngoài nhà nước: Xác định theo tiêu chí sở hữu, bao gồm: hợp tác xã/liên hiệp HTX, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH tư nhân, công ty TNHH có vốn nhà nước $\le 50%$, công ty cổ phần không có vốn nhà nước, công ty cổ phần có vốn nhà nước $\le 50%$.
  • Người lao động tham gia BHXH bắt buộc: Người làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động và BHXH.

Luận án sử dụng 3 cách tiếp cận lý thuyết xã hội học:

  1. Lý thuyết vai trò (Role Theory): Giải thích hành vi tham gia BHXH của người lao động và người sử dụng lao động thông qua sự kỳ vọng xã hội, quy chuẩn pháp lý và trách nhiệm xã hội gắn với vị thế của các chủ thể trong quan hệ lao động.
  2. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý (Rational Choice Theory): Luận giải hành vi của người lao động và chủ doanh nghiệp dựa trên sự cân nhắc giữa chi phí bỏ ra (mức đóng hàng tháng) và lợi ích nhận lại (các chế độ an sinh tương lai hoặc lợi nhuận trước mắt).
  3. Lý thuyết vòng đời (Life-Cycle Theory): Phân tích sự biến đổi trong nhận thức và nhu cầu an sinh; giải thích vì sao nhóm lao động trung niên, lớn tuổi quan tâm nhiều hơn đến tích lũy hưu trí và bảo vệ rủi ro so với nhóm lao động trẻ tuổi.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

Phương pháp nghiên cứu định lượng

  • Nguồn dữ liệu:
    • Dữ liệu điện tử của Trung tâm Điều hành hệ thống công nghệ thông tin thuộc BHXH Việt Nam quản lý, phản ánh toàn bộ dữ liệu người lao động và doanh nghiệp tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn Hà Nội (cập nhật đến 2017/2018).
    • Dữ liệu Điều tra doanh nghiệp tại Hà Nội do Tổng cục Thống kê tiến hành trong 3 năm liên tiếp 2016, 2017, 2018 đối với các loại hình doanh nghiệp.
  • Kỹ thuật xử lý: Tác giả chuyển đổi dữ liệu sang phần mềm SPSS 20, làm sạch số liệu, mã hóa lại biến số độc lập (nhóm nhân khẩu cá nhân và nhóm đặc tính doanh nghiệp). Luận án xây dựng mô hình hồi quy logistic nhị phân (Binary Logistic Regression) với biến phụ thuộc là tình trạng tham gia BHXH (1 = Có tham gia, 0 = Không tham gia).

Phương pháp nghiên cứu định tính

  • Phỏng vấn sâu (PVS): Thực hiện chọn mẫu chủ đích 24 trường hợp, cơ cấu gồm:
    • 10 người lao động (5 người làm việc trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, 5 người trong doanh nghiệp FDI, phân bổ theo độ tuổi, giới tính, vị trí công việc);
    • 04 người sử dụng lao động;
    • 06 cán bộ công đoàn cơ sở;
    • 02 lãnh đạo cơ quan BHXH;
    • 02 lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước về lao động - thương binh và xã hội.
  • Quan sát không tham dự: Thực hiện quan sát tại các bộ phận giao dịch một cửa của cơ quan BHXH (ghi nhận tương tác giữa cán bộ BHXH và người sử dụng lao động); quan sát điều kiện làm việc, sinh hoạt của công nhân tại các khu công nghiệp ở Hà Nội; quan sát thái độ, biểu cảm của người lao động trong các cuộc phỏng vấn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo 4 mảng: lý thuyết ASXH; mô hình ASXH; các nghiên cứu thực tiễn về BHXH tại Việt Nam và quốc tế; các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia BHXH. Tác giả chỉ ra các yếu tố thực nghiệm đã được các học giả phát hiện gồm: tuổi, thu nhập, tình trạng việc làm bấp bênh, hợp đồng thời vụ, mức đóng cao, thủ tục hành chính, quy định hộ khẩu và hiện tượng trốn đóng để giảm chi phí của chủ sử dụng lao động. Tác giả khẳng định khoảng trống lý luận xã hội học về BHXH bắt buộc trong doanh nghiệp ngoài nhà nước tại đô thị lớn như Hà Nội.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ, thao tác hóa khái niệm và thiết lập khung lý thuyết ứng dụng:

  • Vận dụng Lý thuyết vai trò để phân tích xung đột vai trò của người sử dụng lao động (tối đa hóa lợi nhuận kinh tế đối lập với việc thực thi nghĩa vụ an sinh cho người lao động);
  • Vận dụng Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý để chỉ ra động cơ kinh tế: người lao động thu nhập thấp thường ưu tiên tiền mặt trước mắt hơn tích lũy dài hạn, trong khi doanh nghiệp cân nhắc chi phí đóng BHXH với rủi ro bị thanh tra, xử phạt;
  • Vận dụng Lý thuyết vòng đời để phân tích mức độ quan tâm an sinh thay đổi theo lứa tuổi. Chương này cũng phân tích tiến trình chính sách BHXH của Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và khung pháp lý theo Luật BHXH 2014.

Chương 3: Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước ở Hà Nội

Chương 3 phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội Hà Nội và đi sâu vào bức tranh thực tế tham gia BHXH của khối ngoài nhà nước:

  • Quy mô và cơ cấu: Khối doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng áp đảo về số lượng doanh nghiệp đăng ký tại Hà Nội, tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ và tham gia BHXH còn thấp so với khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực FDI.
Tiêu chí phản ánh thực trạng (Dữ liệu Hà Nội) Đặc điểm ghi nhận từ văn bản luận án
Cơ cấu loại hình doanh nghiệp tham gia Doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm số lượng đơn vị đông nhất nhưng quy mô tham gia/đơn vị nhỏ hơn nhiều so với FDI và DNNN.
Đặc điểm giới tính Có sự chênh lệch về tỷ lệ tham gia giữa lao động nam và lao động nữ tùy theo ngành sản xuất kinh doanh.
Phân bố theo nơi cư trú và hộ khẩu Tỷ lệ lớn lao động tham gia BHXH là lao động nhập cư ngoại tỉnh không có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội.
Thu nhập làm căn cứ đóng BHXH Phần lớn doanh nghiệp ngoài nhà nước đóng BHXH theo mức lương tối thiểu vùng hoặc mức căn bản ghi trên hợp đồng, thấp hơn thu nhập thực tế.
Thời gian tham gia BHXH Tỷ lệ lao động có thời gian tham gia ngắn, ngắt quãng hoặc rút BHXH một lần ở mức đáng lưu ý.
Tình trạng nợ đọng, trốn đóng Khối doanh nghiệp ngoài nhà nước có tỷ lệ nợ đọng, chậm đóng BHXH chiếm tỷ trọng cao nhất trong các khối doanh nghiệp.
  • Thuận lợi và khó khăn: Người lao động được hưởng mạng lưới bảo vệ khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động; tuy nhiên gặp khó khăn do doanh nghiệp nợ tiền BHXH dẫn đến không chốt được sổ, không thanh toán được chế độ; thủ tục hành chính và việc tiếp cận thông tin còn nhiều rào cản.

Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp thúc đẩy sự tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước ở Hà Nội

Chương 4 trình bày kết quả phân tích mô hình định lượng và phỏng vấn định tính về các nhóm yếu tố tác động:

  • Nhóm yếu tố chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn bất cập; chế tài xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe; cơ chế phối hợp liên ngành giữa BHXH, Thuế, Lao động còn thiếu đồng bộ; công tác thanh tra chuyên ngành còn mỏng.
  • Nhóm yếu tố thuộc về người lao động: Trình độ học vấn, độ tuổi, tiền lương, tình trạng hộ khẩu; sự hiểu biết về chính sách BHXH còn hạn chế; tâm lý chuộng nhận tiền mặt thay vì đóng bảo hiểm.
  • Nhóm yếu tố thuộc về doanh nghiệp:
    • Quy mô doanh nghiệp: Doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ có xác suất tham gia BHXH thấp hơn doanh nghiệp quy mô vừa và lớn;
    • Ngành nghề sản xuất kinh doanh: Các ngành sử dụng lao động phổ thông, thâm dụng lao động (xây dựng, dịch vụ ăn uống, thương mại nhỏ) có tỷ lệ tham gia thấp hơn;
    • Trách nhiệm xã hội (CSR) và đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp; tình trạng đối xử không công bằng với lao động trung niên hoặc lao động nữ.
  • Nhóm yếu tố công đoàn: Tại nhiều doanh nghiệp ngoài nhà nước, tổ chức công đoàn chưa được thành lập; nơi có công đoàn thì cán bộ công đoàn thường hưởng lương từ chủ doanh nghiệp nên tính đại diện, thương lượng tập thể còn hạn chế.
  • Nhóm giải pháp thúc đẩy: Luận án đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp:
    1. Hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến BHXH;
    2. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về BHXH;
    3. Mở rộng phát triển đối tượng tham gia BHXH tại doanh nghiệp ngoài nhà nước;
    4. Hoàn thiện các giải pháp quản lý thu BHXH;
    5. Cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện BHXH;
    6. Tăng cường sự phối hợp giữa các Sở, ngành với cơ quan BHXH;
    7. Hoàn thiện công tác tổ chức và hành chính về quản lý thu đối với doanh nghiệp;
    8. Hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động phát triển;
    9. Thành lập các tổ chức cơ sở Đảng, công đoàn trong doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án bổ sung góc nhìn xã hội học vào việc nghiên cứu chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam; làm rõ tính đặc thù của quan hệ lao động và hành vi xã hội trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước.
  • Kết hợp đồng thời ba khung lý thuyết: Lý thuyết vai trò, Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý và Lý thuyết vòng đời để giải thích hành vi tuân thủ hoặc lách luật của người sử dụng lao động cũng như quyết định tham gia của người lao động.
  • Chứng minh bằng thực nghiệm rằng tính "bắt buộc" của pháp luật không mặc nhiên dẫn đến hành vi tuân thủ đầy đủ trên thực tế nếu thiếu các cơ chế kiểm soát, chế tài tương xứng và sự cân bằng về lợi ích kinh tế giữa các bên.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Bức tranh thực trạng được lượng hóa thông qua việc kết hợp cơ sở dữ liệu quản lý hành chính của BHXH thành phố Hà Nội và số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê (2016-2018), khắc phục hạn chế về cỡ mẫu nhỏ của các nghiên cứu trường hợp trước đây.
  • Xác định rõ mức độ tác động của các biến số: loại hình doanh nghiệp, ngành nghề sản xuất kinh doanh, quy mô lao động, yếu tố nhân khẩu (tuổi, giới, hộ khẩu) đến xác suất tham gia BHXH.
  • Đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp toàn diện từ cấp độ hoàn thiện thể chế pháp luật, đổi mới quản lý thu, ứng dụng công nghệ thông tin, liên thông cơ sở dữ liệu thuế - bảo hiểm, đến củng cố vai trò giám sát của tổ chức công đoàn tại cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận từ văn bản

  • Hạn chế của nguồn dữ liệu BHXH điện tử: Cơ sở dữ liệu của BHXH Việt Nam tại Hà Nội thu thập theo mục tiêu quản lý thu, chủ yếu ghi nhận các biến nhân khẩu cơ bản (ngày sinh, giới tính, dân tộc, nơi cấp khai sinh, địa chỉ thường trú, mức lương đóng, vùng lương tối thiểu). Nguồn dữ liệu này thiếu vắng các thông tin sâu về nhu cầu, động cơ, thói quen, lối sống của người lao động cũng như vai trò thực chất của tổ chức công đoàn.
  • Hạn chế của dữ liệu Điều tra doanh nghiệp: Số liệu của Tổng cục Thống kê thiếu các chỉ báo tương quan trực tiếp giữa từng đặc điểm cá nhân người lao động với hành vi tham gia BHXH để đưa vào mô hình hồi quy đa biến đồng thời.
  • Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Địa bàn nghiên cứu giới hạn tại thành phố Hà Nội, chưa mở rộng so sánh với các đô thị công nghiệp khác; luận án chưa nghiên cứu chính sách bảo hiểm thất nghiệp do tách biệt về luật điều chỉnh.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát xã hội học định lượng trực tiếp trên diện rộng về lối sống, văn hóa tiêu dùng và tâm lý an sinh của người lao động trong khu vực kinh tế tư nhân.
  • Nghiên cứu so sánh sự tham gia BHXH giữa các trung tâm kinh tế lớn (như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Nghiên cứu tích hợp giữa chính sách BHXH bắt buộc và chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhằm đánh giá mạng lưới bảo vệ an sinh đồng bộ cho người lao động.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Xã hội của Quốc hội): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn thực thi, phục vụ quá trình sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản dưới luật.
  • Cơ quan thực thi chính sách (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội): Tham khảo các giải pháp quản lý thu, kỹ thuật thanh tra liên ngành và cải cách thủ tục hành chính đối với khối doanh nghiệp tư nhân.
  • Tổ chức đại diện người lao động và người sử dụng lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, VCCI): Tham khảo căn cứ thực tiễn để nâng cao hiệu quả thương lượng tập thể và thành lập công đoàn cơ sở.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Xã hội học, Công tác xã hội, Quản lý công: Cung cấp khung phân tích lý thuyết kết hợp phương pháp phân tích hồi quy logistic trên dữ liệu thứ cấp quy mô lớn cùng kỹ thuật phỏng vấn sâu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những nguồn dữ liệu định lượng nào để phân tích thực trạng và kiểm định mô hình hồi quy?

Luận án kết hợp hai nguồn dữ liệu thứ cấp chính thức:

  • Nguồn dữ liệu điện tử quản lý người lao động và doanh nghiệp tham gia BHXH bắt buộc tại thành phố Hà Nội do Trung tâm Điều hành hệ thống công nghệ thông tin thuộc BHXH Việt Nam quản lý (cập nhật năm 2017/2018).
  • Nguồn dữ liệu Điều tra doanh nghiệp tại Hà Nội do Tổng cục Thống kê thực hiện trong 3 năm liên tiếp (2016, 2017, 2018), bao quát các loại hình doanh nghiệp, ngành nghề và quy mô lao động. Số liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.

2. Nghiên cứu định tính của luận án được thiết kế với cơ cấu mẫu phỏng vấn sâu như thế nào?

Luận án tiến hành phỏng vấn sâu 24 trường hợp theo phương pháp chọn mẫu chủ đích, bao gồm:

  • 10 người lao động (5 người thuộc doanh nghiệp ngoài nhà nước, 5 người thuộc doanh nghiệp FDI);
  • 04 người sử dụng lao động;
  • 06 cán bộ công đoàn cơ sở;
  • 02 cán bộ lãnh đạo cơ quan BHXH;
  • 02 cán bộ lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước về lao động - thương binh và xã hội.

3. Ba giả thuyết nghiên cứu của luận án tập trung vào những biến số nào của doanh nghiệp?

Cả ba giả thuyết nghiên cứu đều tập trung vào các đặc tính cấu trúc của doanh nghiệp ngoài nhà nước tác động đến sự tham gia BHXH của người lao động:

  • Giả thuyết 1: Loại hình doanh nghiệp (công ty TNHH, cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã...);
  • Giả thuyết 2: Ngành nghề sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
  • Giả thuyết 3: Quy mô lao động của doanh nghiệp.

4. Vì sao luận án không nghiên cứu chính sách bảo hiểm thất nghiệp cùng với BHXH bắt buộc?

Tác giả lý giải việc chuyển chính sách bảo hiểm thất nghiệp từ Luật BHXH năm 2006 sang điều chỉnh tại Luật Việc làm năm 2013 nhằm gắn kết với các chính sách thị trường lao động tích cực (như tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề duy trì việc làm). Do đối tượng, mức đóng và phương thức thụ hưởng của bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Việc làm có sự khác biệt so với 5 chế độ BHXH bắt buộc theo Luật BHXH 2014, nên tác giả giới hạn phạm vi nội dung để bảo đảm tính tập trung của đề tài.

5. Yếu tố hộ khẩu có ảnh hưởng như thế nào đến việc tham gia an sinh xã hội theo các tài liệu luận án tổng quan?

Theo các nghiên cứu được tổng quan trong luận án (như Phạm Văn Quyết và cs 2017; Actionaid và Oxfam 2012; Đặng Nguyên Anh 2012), quy định quản lý theo hộ khẩu tạo ra rào cản khiến lao động nhập cư ngoại tỉnh gặp bất bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ công đô thị. Mặc dù 57,3% lao động nhập cư nghèo làm việc trong khu vực chính thức có hợp đồng, các chủ sử dụng lao động vẫn lợi dụng tình trạng di cư để ký hợp đồng ngắn hạn, thời vụ nhằm né tránh đóng BHXH bắt buộc.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Xã hội học của tác giả Lâm Văn Đoan là công trình nghiên cứu hệ thống về sự tham gia BHXH bắt buộc của người lao động trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Hà Nội. Bằng việc kết hợp Lý thuyết vai trò, Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý và Lý thuyết vòng đời cùng phương pháp hỗn hợp (hồi quy logistic trên dữ liệu hành chính quy mô lớn kết hợp 24 cuộc phỏng vấn sâu), luận án đã làm rõ cơ chế tác động của các yếu tố cá nhân, đặc tính doanh nghiệp và năng lực quản lý nhà nước đến hành vi tuân thủ an sinh. Các phát hiện thực nghiệm và 9 nhóm giải pháp đề xuất trong luận án cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ yêu cầu cải cách chính sách và mở rộng diện bao phủ BHXH toàn dân theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW.