chương I tổng quan làm rõ các nội dung sau: nghiên cứu về lĩnh vực an sinh xã hội; nghiên cứu về lĩnh vực bảo hiểm xã hội; nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia bảo hiểm xã hội; nghiên cứu về các giải pháp xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội. Nghiên cứu về lĩnh vực an sinh xã hội 1. Nghiên cứu về lý thuyết an sinh xã hội Trên khía cạnh về khái niệm cũng như cách hiểu về an sinh xã hội, các nghiên cứu ở trong và ngoài nước trước đó về vấn đề này xuất hiện nhiều các quan điểm khác nhau. C thể như: trên thế giới, thuật ngữ an sinh xã hội được đề cập trong đạo luật về an sinh xã hội do Franklin D.
Roosevelt, tổng thống Hoa Kỳ ban hành vào năm 1935. Đạo luật này thiết lập một hệ thống chuyển khoản để người lao động, người trẻ trợ giúp người già, người về hưu và những người gặp phải các rủi ro khác và chính phủ bắt đầu thu thuế an sinh xã hội từ người lao động vào năm 1937 và bắt đầu chi trả vào năm 1940 (Đinh Công Tuấn & Đinh Công Hoàng, 2013). Thuật ngữ ASXH cũng được đề cập trong Hiến chương Đại Tây Dương năm 1941. Năm 1952, thuật ngữ ASXH tiếp t c được nhắc tới trong “Công ước về quy phạm ASXH của Tổ chức Lao động quốc tế và được định nghĩa: là “sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình 13 luan an trạng bị ngưng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vong; sự cung cấp về chăm sóc y tế và các khoản tiền trợ cấp cho các gia đình đông con”.
Từ đó, thuật ngữ ASXH được sử d ng rộng rãi trên toàn thế giới và bắt đầu từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, ASXH trở thành một môn khoa học độc lập, được đưa vào giảng dạy ở nhiều trường đại học trên thế giới [50]. Anthony Hall & James Midgley (2004) cho rằng thuật ngữ an sinh xã hội ở Hoa Kỳ chủ yếu đề cập đến các chương trình của chính phủ liên bang về hưu trí tuổi già và bảo hiểm khuyết tật. Martin Evans và các cộng sự (2007) cho rằng đối với Việt Nam, “an sinh xã hội chủ yếu là “bảo hiểm xã hội. Nếu vậy, an sinh xã hội được định nghĩa tương tự như bảo hiểm xã hội là “sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội (Luật bảo hiểm xã hội, 2014).
Martin Evans và các cộng sự (2007) còn cho rằng hệ thống an sinh xã hội được xây dựng nhằm vào các m c tiêu như giúp người dân giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, phòng chống các rủi ro và góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển. Theo quan điểm của một số nhà khoa học Việt Nam, an sinh xã hội (social security) được dịch sang tiếng Việt là “an sinh xã hội” (Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, 2005), một số tác giả khác cho rằng thuật ngữ ngày có nghĩa tương đương với “an ninh xã hội”, “an toàn xã hội”, “bảo đảm xã hội”, “bảo trợ xã hội”. Tuy nhiên Martin Evans, Ian Gough, Susan Harkness, Andrew McKay, Đào Thanh Huyền và Đ Lê Thu Ngọc (2007) cho rằng an sinh xã hội chính là “bảo hiểm xã hội”. Lê Ngọc Hùng (2017) cho rằng ở Vương Quốc Anh, thuật ngữ an sinh xã hội có nội dung rất rộng bao gồm tất cả các chương trình duy trì và h trợ thu nhập trong đó có cả bảo hiểm hưu trí tuổi già, trợ giúp xã hội đối với các gia đình thu nhập thấp và các trợ cấp cho tất cả trẻ em.
Nguyễn Hải Hữu (2006) Tại Hội thảo quốc tế với chủ đề “Hệ thống ASXH ở Việt Nam đã nêu khái niệm: “ASXH là một hệ thống cơ chế, chính sách, biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế, xã hội 14 luan an làm cho họ có nguy cơ bị suy giảm nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa và cung cấp các dịch vụ sức khỏe cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về BHXH, BHYT và hỗ trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ đặc biệt”. Trong bài “Bảo đảm ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “ASXH và phúc lợi xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân”. Đây là một trong những quan niệm đầy đủ, toàn diện, phản ánh được mục đích, bản chất, đối tượng, phương thức thực hiện ASXH [50]. Nghiên cứu về các mô hình an sinh xã hội Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã tập trung nghiên cứu về mô hình ASXH theo một số xu hướng nghiên cứu như sau: Hệ thống ASXH của các nước Bắc Âu (Th y Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy) đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau: từ góc độ kinh tế là việc xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội, từ góc độ chính trị là việc xây dựng chế độ dân chủ - xã hội, từ góc độ xã hội, là việc xây dựng nhà nước phúc lợi, đặc trưng bởi nguyên tắc phổ quát và bình đẳng; Các nghiên cứu về ASXH của mô hình Anh – Mỹ phát huy tối đa ưu thế của kinh tế thị trường, lấy lợi nhuận là m c tiêu chính, nhưng chưa chú trọng đến việc phân phối công bằng và hợp lý; Hệ thống ASXH của Trung Quốc và một số nước đang phát triển đã có những định hướng nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo để có cơ sở khoa học trong hoạch định chính sách ASXH; Xu hướng nghiên cứu về mô hình ASXH của ngân hàng thế giới đưa ra gần đây, nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống ASXH trong việc nâng cao năng lực phòng ngừa rủi do, tái tạo sinh kế thuận lợi hơn [50].
Tổ chức lao động quốc tế (1952) cho rằng “mô hình an sinh xã hội bao gồm 3 tầng sàn (floor) từ thấp đến cao bao gồm: sàn thấp nhất bao gồm các chế độ an sinh xã hội, cơ bản, tối thiểu; sàn tầng 2 (trung gian) bao gồm bảo hiểm xã hội bắt buộc 15 luan an và các chế độ an sinh xã hội khác, dựa vào nguồn lực đóng góp của cá nhân, doanh nghiệp và một phần hỗ trợ của nhà nước cho một số đối tượng; sàn tầng 3, cao nhất bao gồm bảo hiểm xã hội tự nguyện và các chế độ an sinh xã hội khác”. Nghiên cứu về các mô hình an sinh xã hội, Lê Ngọc Hùng & Bùi Thị Phương (2016) cho rằng ở Việt Nam, an sinh xã hội là “một bộ phận cấu thành của chính sách công về xã hội và chính sách xã hội”. Mai Huy Bích (2011) cho rằng an sinh xã hội được phân biệt thành 4 mô hình trên thế giới bao gồm: mô hình an sinh xã hội cơ bản; mô hình an sinh xã hội m c tiêu, mô hình an sinh xã hội nghiệp đoàn; mô hình an sinh xã hội bao quát; Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn, Nguyễn Bích Ngọc, Đặng Hà Thu đã đề cập đế mô hình an sinh xã hội – ba tr cột bao gồm: trợ giúp xã hội; bảo hiểm xã hội; bảo đảm việc làm. Theo Ban Kinh tế khu vực Châu Mỹ Latinh và Caribe (2002) thì mô hình an sinh xã hội – 3 tr cột là mô hình an sinh xã hội truyền thống.
Ngoài ra, các tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn, Nguyễn Bích Ngọc, Đặng Hà Thu (2013) đã đề cập đến mô hình an sinh xã hội 3P bao gồm: phòng ngừa rủi ro; bảo vệ khỏi tác hại của rủi ro; thúc đẩy phát triển năng lực phòng chống và giảm hại rủi ro; Mạc Tiến Anh (2005) cho rằng an sinh xã hội bao gồm: Bảo hiểm xã hội; Trợ giúp xã hội; Trợ cấp gia đình; Các quỹ tiết kiệm xã hội; Các dịch v xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng [03]. V Các vấn đề xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương (2017) cho rằng Ở Việt Nam, cấu trúc của hệ thống ASXH vừa mang những đặc điểm phổ quát vừa mang những nét đặc thù.Với đặc trưng của chế độ chính trị, bản chất nhân văn, ưu việt vì con người, của chế độ xã hội, yếu tố lịch sử, địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta, có thể thấy cấu trúc của hệ thống ASXH gồm 3 tr cột: (1) BHXH (bao gồm cả BHYT, bảo hiểm thất nghiệp); (2) Ưu đãi xã hội; (3) Bảo trợ xã hội (bao gồm trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội). Xét về thực chất, ba tr cột này là nhằm thực hiện 3 chức năng chiến lược của hệ thống ASXH: Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc ph c rủi ro. So với mô hình phổ biến trên thế giới, hệ thống ASXH ở nước ta có một cấu phần đặc thù, đó chính là chính sách ưu đãi xã hội.
Chính sách này nhằm thực hiện m c tiêu cao cả là đền ơn, đáp nghĩa đối với sự hy sinh, công lao đặc biệt và cống hiến to lớn của những người có công với cách mạng, với đất 16 luan an nước; thực hiện trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội chăm lo, bảo đảm cho người có công có cuộc sống ổn định và ngày càng được cải thiện.Trong ba tr cột nêu trên, BHXH, BHYTlà những bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống ASXH, còn gọi là tr cột chính của ASXH, đã được thể chế hóa bằng Luật BHXH, được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006 và Luật BHYT, được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008.