Luận văn thạc sĩ: Đào tạo bồi dưỡng cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Lào

Nghiên cứu thực trạng và nhu cầu đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong giai đoạn hiện nay.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

138
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ tuyên huấn Lào

Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (NDCM) hiện nay là vấn đề cấp thiết, phản ánh xu hướng phát triển của hệ thống chính trị (HTCT) Lào trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Theo nghiên cứu của Duangphet Mardsavong (2021), đào tạo bồi dưỡng (ĐTBD) không chỉ giúp nâng cao năng lực chuyên môn mà còn thúc đẩy sự thích ứng với các yêu cầu mới về chính trị, kinh tế và xã hội. Các cán bộ tuyên huấn đóng vai trò then chốt trong việc truyền tải chủ trương, đường lối của Đảng, do đó nhu cầu ĐTBD ngày càng đa dạng, từ kỹ năng lãnh đạo, quản lý đến cập nhật kiến thức lý luận. Bên cạnh đó, sự thay đổi trong cơ cấu xã hội Lào, đặc biệt là xu hướng trẻ hóa lực lượng cán bộ, đòi hỏi hệ thống đào tạo phải linh hoạt và phù hợp với thực tiễn. Chính vì vậy, việc đánh giá nhu cầu ĐTBD trở thành cơ sở quan trọng để xây dựng chính sách đào tạo hiệu quả.

1.1. Khái niệm nhu cầu đào tạo bồi dưỡng trong lĩnh vực tuyên huấn

Nhu cầu ĐTBD trong lĩnh vực tuyên huấn được hiểu là những đòi hỏi về kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để cán bộ hoàn thành nhiệm vụ chính trị, tư tưởng. Theo quan điểm xã hội học, nhu cầu này bao gồm hai nhóm chính: nhu cầu hiện tại (đáp ứng nhiệm vụ công việc ngay lập tức) và nhu cầu tiềm năng (phát triển năng lực dài hạn). Đối với cán bộ tuyên huấn Lào, nhu cầu này còn chịu ảnh hưởng bởi đặc thù HTCT Lào, nơi Đảng NDCM đóng vai trò lãnh đạo tối cao. Ngoài ra, nhu cầu ĐTBD cũng phụ thuộc vào trình độ chuyên môn hiện có, kinh nghiệm công tác và môi trường làm việc. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, cán bộ tuyên huấn Lào thường ưu tiên các khóa đào tạo về lý luận chính trị, kỹ năng truyền thông và quản lý dự án.

1.2. Vai trò của đào tạo bồi dưỡng trong hệ thống chính trị Lào

Đào tạo bồi dưỡng đóng vai trò then chốt trong việc duy trì và phát triển HTCT Lào, đặc biệt là hệ thống tuyên huấn. Theo học thuyết xã hội học của Đảng NDCM, cán bộ tuyên huấn là cầu nối giữa Đảng và nhân dân, do đó năng lực của họ quyết định hiệu quả của công tác tuyên truyền. ĐTBD giúp cán bộ nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, cập nhật kiến thức về kinh tế - xã hội, và nâng cao kỹ năng giao tiếp, thuyết phục. Ngoài ra, ĐTBD còn góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có đạo đức cách mạng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, nhu cầu ĐTBD không chỉ là nhiệm vụ của cá nhân mà còn là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị Lào.

II. Thực trạng nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ tuyên huấn Lào hiện nay

Thực trạng nhu cầu ĐTBD cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng NDCM Lào hiện nay cho thấy sự đa dạng về nhu cầu nhưng còn nhiều hạn chế trong triển khai. Theo khảo sát của Duangphet Mardsavong (2021), 67,6% cán bộ có độ tuổi từ 30-40, chủ yếu có thâm niên công tác dưới 10 năm, cho thấy lực lượng trẻ chiếm ưu thế. Nhu cầu ĐTBD của nhóm này tập trung vào kỹ năng lãnh đạo, quản lý dự án và ngoại ngữ, nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập ASEAN. Tuy nhiên, khảo sát cũng chỉ ra rằng 45,3% cán bộ chưa được tham gia bất kỳ khóa đào tạo nào trong vòng 2 năm, nguyên nhân chủ yếu do thiếu nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất. Bên cạnh đó, nhu cầu về đào tạo lý luận chính trị vẫn chiếm tỷ lệ cao (30%), nhưng chất lượng đào tạo chưa đồng đều giữa các tỉnh. Sự chênh lệch về nhu cầu ĐTBD giữa cán bộ trẻ và cán bộ có thâm niên cũng là một thách thức, khi nhóm cán bộ trên 50 tuổi ưu tiên đào tạo về kỷ luật, đạo đức hơn là kỹ năng mới.

2.1. Những khó khăn trong triển khai đào tạo bồi dưỡng

Khó khăn lớn nhất trong triển khai ĐTBD là thiếu nguồn lực tài chính và cơ sở hạ tầng. Theo báo cáo của Ban Tuyên huấn Trung ương Lào, ngân sách dành cho ĐTBD chỉ chiếm 0,5% tổng ngân sách hoạt động, trong khi nhu cầu đào tạo ngày càng tăng. Ngoài ra, sự thiếu hụt giảng viên có trình độ chuyên môn cao, đặc biệt trong lĩnh vực lý luận chính trị, cũng là rào cản. Thêm vào đó, hệ thống quản lý đào tạo chưa được số hóa, dẫn đến tình trạng chồng chéo về chương trình và thiếu sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo. Một khó khăn khác là sự thiếu thống nhất trong đánh giá nhu cầu ĐTBD, khi mỗi tỉnh thành có những ưu tiên đào tạo khác nhau, gây ra sự không đồng bộ trong toàn hệ thống.

2.2. Sự chênh lệch nhu cầu đào tạo giữa các nhóm cán bộ

Sự chênh lệch nhu cầu ĐTBD giữa các nhóm cán bộ trong Ban Tuyên huấn Trung ương Lào phản ánh sự khác biệt về độ tuổi, thâm niên công tác và vị trí công tác. Cán bộ trẻ (dưới 30 tuổi) ưu tiên đào tạo về kỹ năng công nghệ thông tin, ngoại ngữ và quản lý dự án, nhằm đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số. Trong khi đó, cán bộ có thâm niên (trên 15 năm) lại tập trung vào đào tạo lý luận chính trị, đạo đức cách mạng và kỹ năng truyền thống như diễn thuyết, viết bài. Sự chênh lệch này còn thể hiện ở nhu cầu về đào tạo lãnh đạo, khi cán bộ nữ và cán bộ dân tộc thiểu số có nhu cầu đào tạo về bình đẳng giới và đa dạng văn hóa cao hơn so với nhóm cán bộ nam, dân tộc Kinh. Những khác biệt này đòi hỏi hệ thống ĐTBD phải linh hoạt, có các chương trình đào tạo đa dạng và phù hợp với từng nhóm đối tượng.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo bồi dưỡng cán bộ tuyên huấn

Để nâng cao hiệu quả ĐTBD cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng NDCM Lào, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách, tài chính và phương pháp đào tạo. Trước hết, cần xây dựng một hệ thống quản lý đào tạo thống nhất, dựa trên nền tảng công nghệ số, nhằm theo dõi nhu cầu ĐTBD theo thời gian thực. Thứ hai, tăng cường ngân sách cho ĐTBD, tối thiểu 2% tổng ngân sách hoạt động, và huy động nguồn lực từ các tổ chức quốc tế như UNESCO, ASEAN. Thứ ba, đa dạng hóa chương trình đào tạo, bao gồm cả đào tạo trực tuyến và trực tiếp, với sự tham gia của giảng viên trong và ngoài nước. Thứ tư, xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo, đảm bảo chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt với Việt Nam và các nước ASEAN, nhằm học hỏi kinh nghiệm trong lĩnh vực ĐTBD cán bộ tuyên huấn.

3.1. Xây dựng chương trình đào tạo đa dạng và linh hoạt

Chương trình ĐTBD cần được thiết kế đa dạng, bao gồm các khóa đào tạo ngắn hạn (1-3 tháng) và dài hạn (6-12 tháng), phù hợp với nhu cầu của từng nhóm cán bộ. Các khóa đào tạo ngắn hạn có thể tập trung vào kỹ năng thực hành như viết bài tuyên truyền, sử dụng phần mềm truyền thông, trong khi khóa đào tạo dài hạn tập trung vào lý luận chính trị, quản lý nhà nước. Ngoài ra, cần xây dựng các chương trình đào tạo theo hình thức blended learning, kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp, nhằm tiết kiệm chi phí và tăng tính linh hoạt. Đặc biệt, các chương trình đào tạo cần được đánh giá định kỳ, dựa trên phản hồi của học viên và kết quả công việc sau đào tạo.

3.2. Nâng cao năng lực giảng viên và cơ sở vật chất

Nâng cao năng lực giảng viên là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng ĐTBD. Cần xây dựng các chương trình đào tạo giảng viên, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực tuyên huấn. Ngoài ra, cần đầu tư vào cơ sở vật chất, bao gồm phòng học hiện đại, thư viện điện tử và hệ thống quản lý học viên. Đặc biệt, cần xây dựng các trung tâm đào tạo tuyên huấn cấp tỉnh, nhằm phân cấp quản lý và tăng cường sự tiếp cận của cán bộ đến các khóa đào tạo. Việc hợp tác với các trường đại học trong nước và quốc tế cũng là một giải pháp hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu trong lĩnh vực tuyên huấn.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho công tác đào tạo cán bộ tuyên huấn

Nhu cầu ĐTBD cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng NDCM Lào hiện nay là cấp thiết, phản ánh sự thay đổi trong HTCT Lào và xu hướng hội nhập quốc tế. Thực trạng cho thấy sự đa dạng về nhu cầu nhưng còn nhiều hạn chế trong triển khai, do thiếu nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và sự chênh lệch giữa các nhóm cán bộ. Để nâng cao hiệu quả ĐTBD, cần xây dựng hệ thống quản lý thống nhất, tăng cường ngân sách, đa dạng hóa chương trình đào tạo và nâng cao năng lực giảng viên. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác quốc tế và xây dựng các chương trình đào tạo linh hoạt, phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên huấn chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của Lào.

4.1. Tầm quan trọng của đào tạo bồi dưỡng trong phát triển cán bộ

Đào tạo bồi dưỡng đóng vai trò quyết định trong việc phát triển năng lực cán bộ tuyên huấn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền của Đảng NDCM. Theo nghiên cứu, cán bộ được đào tạo bài bản có khả năng thích ứng nhanh hơn với những thay đổi của xã hội, từ đó nâng cao chất lượng công tác tuyên huấn. Ngoài ra, ĐTBD còn giúp xây dựng đội ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới. Chính vì vậy, ĐTBD không chỉ là nhiệm vụ của cá nhân mà còn là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị Lào.

4.2. Định hướng phát triển công tác đào tạo trong tương lai

Trong tương lai, công tác ĐTBD cán bộ tuyên huấn Lào cần hướng tới sự chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa và quốc tế hóa. Trước hết, cần xây dựng các tiêu chuẩn nghề nghiệp rõ ràng, nhằm đánh giá chất lượng cán bộ tuyên huấn một cách khách quan. Thứ hai, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo, bao gồm học trực tuyến, mô phỏng thực tế ảo và hệ thống quản lý học viên tự động. Thứ ba, mở rộng hợp tác quốc tế, đặc biệt với các nước ASEAN, nhằm học hỏi kinh nghiệm trong lĩnh vực ĐTBD và xây dựng các chương trình đào tạo chung. Cuối cùng, cần xây dựng một hệ thống giám sát và đánh giá liên tục, nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo và điều chỉnh chương trình phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ ban tuyên huấn trung ương đảng nhân dân cách mạng lào hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU. 1 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU ĐẠO TẠO, BỒI DƢỠNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG. Một số khái niệm liên quan. Các lý thuyết xã hội học vận dụng trong nghiên cứu .3 Giới thiệu về Ban Tuyên huấn Trung ương.

32 Chƣơng 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VÀ THỰC TRẠNG THAM GIA ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CỦA CÁN BỘ BAN TUYÊN HUẤN TRUNG ƢƠNG LÀO. Thông tin về địa bàn, mẫu khảo sát và đặc điểm trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Lào. Thực trạng đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng của đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương. 45 Chƣơng 3: NHU CẦU ĐÀO TẠO BỒI DƢỠNG KIẾN THỨC CỦA CÁN BỘ BAN TUYÊN HUẤN TRUNG ƢƠNG LÀO.1 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương .2 Các yếu tố xã hội tác động đến nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng Nhân Dân cách mạng Lào hiện nay.

88 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGH. 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 113 DANH MỤC BẢNG Bảng 2. Cơ cấu thâm niên công tác của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170).

Trình độ học vấn của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170).3: Lý do cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương chưa bao giờ tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng (N = 170) .4: Lý do đi học của cán bộ Ban tuyên huấn Trung ương (N=119) .5: Yếu tố thúc đẩy cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương đi học thêm (N=119) .6: Thực trạng trong 5 năm vừa qua (từ năm 2016 đến nay) cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương đã từng được tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức (N=119) .7: Đánh giá thực trạng các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=119).8: Đánh giá thực trạng khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=119) .9: Đánh giá thực trạng các khóa đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=119) .10: Thực trạng tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng quản lý nhà nước của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=119).11: Đánh giá thực trạng các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=119).12: Đánh giá thực trạng các khóa đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=119) .1: Lý do quan trọng nhất của cán bộ khi tham gia lớp đào tạo (N=170).2: Thâm niên công tác và nhu cầu đào tạo kiến thức chuyên môn của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=170) .3: Lý do quan trọng nhất của cán bộ khi tham gia lớp bồi dưỡng (%) (N=170) .4: Lý do quan trọng nhất của cán bộ Ban tuyên huấn khi đi học các lớp kỹ năng (N=170).5: Thâm niên và mức độ cần thiết về kỹ năng thuyết trình (N=170) .6: Nhu cầu về mức độ thường xuyên mong muốn tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng của các cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) .7: Nhu cầu về khung thời gian và địa điểm được đào tạo (có cấp bằng) trong 5 năm tới của các cán bộ Ban tuyên huấn Trung ương (N=170) .8: Nhu cầu được bồi dưỡng (có/không cấp chứng chỉ) các kỹ năng của các cán bộ Ban tuyên huấn trong 5 năm tới (N=170).9: Nhu cầu của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương về thời điểm tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức/ các lớp bồi dưỡng kỹ năng trong các tháng (N=170) .10: So sánh tương quan giới tính, chức vụ công tác với Nhu cầu của cán bộ đối với số ngày tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức/ các lớp bồi dưỡng kỹ năng (N = 170) .11: Sự khác biệt về giới tính và nhu cầu của cán bộ về đội ngũ giảng viên đào tạo, bồi dưỡng (N = 170).12: Yếu tố rào cản từ phía cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương có nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng về kiến thức nhưng chưa thực hiện được (%) (N = 170).13: Ý kiến của cán bộ về đối tượng được ưu tiên đi đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng (N= 170) .14: Những yếu tố chính sách ảnh hưởng đến nhu cầu đạo tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng (N = 170). 94 DANH MỤC BIỂU Biểu 2.1: Cơ cấu về giới của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170). Cơ cấu độ tuổi của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) 40 Biểu 2.: Mức sống của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170). Giới tính và trình độ học vấn (so sánh ngang) của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170).

Giới tính và tự đánh giá trình độ ngoại ngữ tiếng anh của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (so sánh ngang) (N=170). Giới tính và tự đánh giá trình độ ngoại ngữ tiếng anh (so sánh dọc) của đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170). Giới tính và tự đánh giá trình độ tin học văn phòng (so sánh dọc) của đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170).8: Lớp học đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=119) .1: Mức độ cần thiết của cán bộ về lớp đào tạo .2: Mức độ cần thiết của cán bộ về lớp bồi dưỡng (%) (N = 170) .3: Mức độ cần thiết của cán bộ về lớp kỹ năng .4: Nhu cầu của cán bộ đối với số ngày tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức/ các lớp bồi dưỡng kỹ năng .5: Nhu cầu của cán bộ về đội ngũ giảng viên đào tạo, bồi dưỡng (N=170). 86 DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow.

Tính cấp thiết của đề tài Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng: Nhà nước ra đời không phải là nhằm giải quyết mâu thuẫn trong xã hội mà là để điều hành những mâu thuẫn phát sinh trong xã hội theo chiều hướng có lợi cho giai cấp cầm quyền. Nắm quyền lực của quốc gia, nhà nước có trách nhiệm và thẩm quyền quản lý quốc gia trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh- quốc phòng, văn hóa, giáo dục, y tế, dân tộc, tôn giáo. Điều này, có nghĩa là lĩnh vực mà nhà nước chịu trách nhiệm quản lý rất đa dạng và phức tạp để có thể làm tròn trách nhiệm đó, nhà nước cần phải xây dựng cho mình một bộ máy quản lý hoạt động hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở với yếu tố nòng cốt mang tính quyết định là đội ngũ cán bộ công chức. Cán bộ và công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu“then chốt” của nhiệm vụ “then chốt”.

Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước Lào, nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới hiện nay và trong tương lai. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn chúng ta: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Công cuộc đổi mới ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khởi xướng và lãnh đạo, thực chất là sự tiếp tục sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới với những cải biến cách ng sâu rộng và toàn diện, nhằm khơi dậy, tạo ra và phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực của đất nước.

Đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh nhìn chung còn thiếu, vừa yếu. Một số cán bộ đảng viên chưa thấm nhuần sâu sắc đường lối đổi mới của Đảng. 2 Phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên chưa khoa học, nghiêm túc, một số còn giáo điều và coi thường việc kiểm tra, tổng kết kinh nghiệm (Đại hội II của Đảng bộ tỉnh Viêng Chăn, 1988). Hiện nay, thủ đô Viêng Chăn đang bước vào thời kỳ mới, ra sức thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các dự án của quốc gia và Thủ đô.

Yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới hết sức nặng nề, đòi hỏi các cán bộ chủ chốt, các công chức viên chức phải có chất lượng tốt, đủ phẩm chất, năng lực, trí tuệ đảm đương các công việc được giao. Một bộ phận cán bộ nói chung của Ban Tuyên huấn nói riêng trình độ kiến thức, năng lực còn hạn chế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của cơ sở còn thiếu sót. Sự chỉ đạo của các cấp Đảng đối với công tác bồi dưỡng chưa kịp thời; chính sách, chế độ đối với người tham gia công tác đào tạo bồi dưỡng (ĐTBD) chưa thực thỏa đáng; cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh phí đầu tư cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế; chưa có chương trình giáo trình chuẩn cho việc đào tạo, bồi dưỡng cho từng bộ phận, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng được đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp đối với học viên, tính chuyên nghiệp chưa cao. Ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ mới, việc đào tạo bồi dưỡng lại cho đội ngũ cán bộ có sẵn, các cán bộ trong giai đoạn phát triển của đất nước thời kỳ này là việc cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ ở Ban Tuyên huấn thủ đô.

Ban Tuyên huấn Trung ương có các chức năng, nhiệm vụ là: Nghiên cứu, tham mưu; Tuyên truyền, giáo dục và hướng dẫn, kiểm tra, giám sát; Thẩm định, thẩm tra các đề án, văn bản liên quan đến chủ trương, chính sách thuộc lĩnh vực tuyên giáo của các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận, tổ chức đoàn thể và các địa phương trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Tham gia, phối hợp trong công tác xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên huấn; Chủ trì, phối hợp hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác 3 thông tin đối ngoại; Phối hợp với Ban Đối ngoại Trung ương triển khai, thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tuyên giáo đối với các đảng cộng sản, đảng công nhân và một số đảng cầm quyền trên thế giới; Thực hiện một số nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ