CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Phát triển đội ngũ CBQL trong nhà trường từ lâu đã được đề cập trong các nghiên cứu lý luận và được sử dụng rất sớm trong thực tiễn hoạt động giáo dục ở các nước trên thế giới. Theo Nguyễn Mạnh Tường thì từ thế kỷ XVI ở Châu Âu, khi đề cập đến biện pháp chấn hưng giáo dục, người ta đã nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL.
Các nội dung phát triển đội ngũ CBQL, cùng những biện pháp triển khai chúng dần được bổ sung, ngày càng phong phú thêm, nhưng yếu tố chất lượng đội ngũ luôn luôn được nhấn mạnh. Đến những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, khi mà các khái niệm “vốn con người” (Human capital) và “nguồn lực con người” (Human resources) xuất hiện ở Hoa Kỳ và sau đó thịnh hành trên thế giới (xuất hiện cuối thập niên 60 bởi nhà kinh tế học người Mỹ Theodor Schoultz), sau đó thịnh hành vào những năm 70, 80 với sự phát triển tiếp nối của nhà kinh tế người Mỹ nhận giải Nobel kinh tế 1992 Gary Baker, thì vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên và CBQLGD cũng được giải quyết với tư cách là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và cách thức giải quyết vần đề thì có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia và của mỗi giai đoạn lịch sử. Trong thời đại hiện nay, thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức, nơi “tri thức đang trở thành nhân tố quan trọng nhất quyết định mức sống - quan trọng hơn đất đai, hơn công cụ sản xuất, hơn lao động”.
Đội ngũ trí thức – những người sản sinh ra tri thức và ứng dụng sáng tạo tri thức sẽ có đóng góp ngày càng lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, đã có không ít 14 các tác giả phân tích chính sách gắn phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ với xây dựng đội ngũ trí thức của từng nước. Chẳng hạn, khi phân tích chính sách phát triển giáo dục và đào tạo bồi dưỡng, giới trí thức Mỹ (quốc gia có nền giáo dục phát triển) ở khía cạnh hệ thống giáo dục cho thấy: Hệ thống giáo dục của Mỹ là một hệ thống giáo dục khá điển hình ở một nước có trình độ khoa học - công nghệ và phát triển kinh tế cao theo hướng thị trường. Nền giáo dục Mỹ đã góp phần đáng kể cung cấp cho xã hội Mỹ một đội ngũ đông đảo những nhà khoa học, giảng viên cũng như hàng triệu công nhân kỹ thuật lành nghề, góp phần quan trọng trong phát triển nền kinh tế Mỹ trong nhiều thời kỳ để trở thành cường quốc kinh tế, giáo dục, khoa học công nghệ trên thế giới.
Mà nguyên nhân thành công này không phải nằm trong hệ thống giáo dục, hệ thống khoa học - công nghệ mà nằm ở hệ thống quản lý giáo dục và quản lý khoa học - công nghệ. Vì thế, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục như: Christian Batal trong bộ sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” đã đưa ra một lý thuyết tổng thể về phát triển nguồn nhân lực. Ông cho rằng, bức tranh phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu quả của nguồn nhân lực; Paul Hersey Ken Blanc Harsey trong cuốn sách “Quản lý nguồn nhân lực” đề cập đến cách tiếp cận ứng dụng khoa học về hành vi, xem đó là những công cụ quan trọng giúp nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động. Công trình này nghiên cứu một cách khá toàn diện và đầy đủ thông tin về quản lý nguồn lực trên cơ sở trình bày một cách bao quát và chuyên sâu những nội dung cơ bản của quản lý phát triển nguồn nhân lực, đi từ khoa học hành vi đến phương pháp lãnh đạo cụ thể như lãnh đạo theo tình huống, xây dựng các mối quan hệ hiệu quả, tổ chức nhóm hành động, hoạch định mục tiêu, kế hoạch, đưa ra quyết định hợp lý.
Các vấn đề được triển khai rõ ràng, cụ thể, sống động cả về mặt lý luận và thực tiễn có tính điển hình cao. 15 Quản lý là một hoạt động mang tính chất lịch sử xã hội, hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của loài người. Đó là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ, mọi quốc gia và thời đại. Nhờ hoạt động quản lý, xã hội loài người không ngừng hoạt động và phát triển.
Khẳng định tầm quan trọng của quản lý, trong phát triển nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mac – Anghen đã rút ra kết luận rằng: một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất tư bản là nhờ vai trò của hoạt động quản lý. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Với mục tiêu nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong lao động đòi hỏi phải có sự đứng đầu chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý, giúp cho sự nổ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục đích. Nói đến hoạt động này, người ta thường nhắc đến ý nghĩa sâu sắc của C.
Mac: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc công”. Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng đã tạo ra rất nhiều cơ hội, nhưng kèm theo đó cũng xuất hiện không ít thách thức đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Những cơ hội mới và những thách thức này đã làm biến đổi nhanh chóng, sâu sắc đến tư duy và phương thức tiến hành mọi hoạt động xã hội, đặt ra yêu cầu khách quan đối với mỗi nước là phải làm sao vừa phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của dân tộc; vừa phải giữ vững được sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Trong cuốn “Vấn đề quản lý và lãnh đạo nhà trường” V.A Xukhomlimxki đã nêu rất cụ thể cách tiến hành phân tích và khảo sát giúp đội ngũ CBQL thực hiện tốt và có hiệu quả giả pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL.
Do đó, yêu cầu về đào tạo, cơ cấu và phát triển đội ngũ CBQL để thích ứng với sự thay đổi trở thành áp lực thường xuyên của giáo dục. 16 Nhìn chung các nước trên thế giới xem đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và đội ngũ giáo viên nói riêng là một trong năm điều kiện cơ bản để phát triển giáo dục. Đó là: Môi trường kinh tế của giáo dục; chính sách và công cụ thể chế hóa giáo dục; cơ sở vật chất – kỹ thuật và tài chính cho giáo dục; đội ngũ giáo viên và người học; Nghiên cứu giáo dục, lý luận giáo dục và thông tin giáo dục. Những nghiên cứu trong nước Trong bất kỳ thời đại nào, giáo dục luôn được coi là một lĩnh vực quan trọng, giữ vai trò sống còn đối với sự phát triển của một quốc gia.
Sở dĩ như vậy là vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội; Muốn phát triển xã hội phải chăm lo nhân tố con người về thể chất và tinh thần, nhất là về học vấn. Giáo dục xuất hiện rất sớm, ngay từ khi con người có mặt trên trái đất. Hình thức GD sơ khai đầu tiên chỉ là sự truyền thụ kinh nghiệm từ đời này sang đời khác với mục đích để tồn tại và duy trì sự sống, đến khi xã hội loài người phát triển lên giai đoạn mới, có tính tổ chức thì GD dần được thể hiện rõ nét hơn. Xã hội loài người đã trãi qua các thời kì văn minh nhân loại khác nhau và với mỗi thời kỳ đó, một dạng nhà trường và một phương pháp quản lý đặc trưng phù hợp với hình thái kinh tế - xã hội tương ứng được hình thành.
Hình thức tổ chức nhà trường sơ khai lần đầu tiên xuất hiện trong thời kỳ xã hội chiếm hữu nô lệ với mục đích phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị. Và bất kỳ hoạt động có tổ chức nào của con người cũng cần có sự quản lý, cho nên có thể nói khi đó cũng đã bắt đầu xuất hiện sự quản lý nhà trường. Trong bất kỳ thời đại nào, giáo dục luôn được coi là một lĩnh vực quan trọng, giữ vai trò sống còn đối với tiến trình phát triển của một quốc gia. Sở dĩ như vậy là vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội; muốn phát triển xã hội phải chăm lo nhân tố con người về thể chất và tinh 17 thần, nhất là về học vấn.
Bác Hồ đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” bởi không có tri thức, hiểu biết về xã hội, tự nhiên và chính bản thân mình, con người sẽ luôn lệ thuộc, bất lực trước những thế lực và sức mạnh cản trở sự phát triển của dân tộc, đất nước mình. Sinh thời, khi bàn về công tác cán bộ, Người đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém”. Tư tưởng đó của Người là kim chỉ nam cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về quan điểm và phương thức phát triển nguồn nhân lực, trong đó có đội ngũ CBQL trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng thời kỳ lịch sử. Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng đã tạo ra rất nhiều cơ hội, nhưng kèm theo đó cũng xuất hiện không ít thách thức đối với mỗi quốc gia, dân tộc.
Những cơ hội mới và những thách thức này đã làm biến đổi nhanh chóng, sâu sắc đến tư duy và phương thức tiến hành mọi hoạt động xã hội, đặt ra yêu cầu khách quan đối với mỗi nước là phải làm sao vừa phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của dân tộc; vừa phải giữ vững được sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Ở Việt Nam, trước hết phải nói đến Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) về QLGD. Ngay từ những năm 20 của thế kỉ XX, để chuẩn bị đội ngũ nòng cốt của Đảng sau này, Bác Hồ đã thành lập tổ chức “Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội”.