Tổng quan luận án
Công trình Tiếp biến văn hóa Pháp - Việt trong nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 1884 - 1945 do nghiên cứu sinh Nguyễn Hoa Mai thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Quý Đức, bảo vệ năm 2019 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62 31 06 40).
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN LUẬN ÁN TIẾN SĨ |
| - Tên đề tài: Tiếp biến văn hóa Pháp - Việt trong nền giáo dục Việt Nam giai đoạn |
| 1884 - 1945 |
| - Tác giả: Nguyễn Hoa Mai |
| - Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Quý Đức |
| - Chuyên ngành: Văn hóa học (Mã số: 62 31 06 40) |
| - Cơ sở đào tạo: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh |
| - Năm bảo vệ: 2019 |
+---------------------------------------------------------------------------------------+
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ các định hướng lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 (Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 33-NQ/TW (Hội nghị Trung ương 9 Khóa XI) về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Về mặt học thuật, luận án hướng đến lấp đầy khoảng trống nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn về việc nhận thức lại lịch sử giai đoạn cận - hiện đại mà nhà sử học Phan Huy Lê đã nêu ra tại cuộc tọa đàm ngày 22/02/2017 do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức. Đồng thời, công trình giải quyết câu hỏi mang tính lý luận văn hóa học: Tại sao qua quá trình tiếp xúc lâu dài với văn hóa Pháp trong điều kiện bị áp đặt chính trị, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa mà còn được bồi đắp và hiện đại hóa.
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu ý nghĩa tích cực của quá trình tiếp biến văn hóa Pháp qua nền giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 1884 - 1945 dưới góc nhìn văn hóa học, từ đó gợi mở những vấn đề tiếp thu văn hóa nhân loại của nền giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Để đạt mục đích trên, luận án thực hiện 5 nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình liên quan đến đề tài luận án.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và vận dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa trong nghiên cứu đề tài.
- Khái quát diễn trình tiếp biến văn hóa Pháp qua nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 1884 - 1945 từ Nam Kỳ đến các cuộc cải cách trên toàn quốc.
- Phân tích sự khúc xạ của giáo dục Pháp trong nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 1884 - 1945 qua 5 thành tố văn hóa.
- Đánh giá thành tựu tiếp biến văn hóa Pháp đối với văn hóa Việt Nam qua nền giáo dục giai đoạn 1884 - 1945 và rút ra các gợi mở cho nền giáo dục hiện nay.
Luận án đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Trong giao lưu văn hóa với Pháp giai đoạn 1884 - 1945, thông qua giáo dục, người Việt Nam đã tiếp biến những gì của văn hóa Pháp? Tiếp biến như thế nào để phát triển nền văn hóa dân tộc? Ý nghĩa của sự tiếp biến đó là gì?
- Câu hỏi 2: Bài học kinh nghiệm đối với đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo dưới góc nhìn tiếp biến văn hóa trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay là gì?
Hai giả thuyết nghiên cứu được xác lập:
- Giả thuyết 1: Người Pháp trong quá trình cai trị và tổ chức giáo dục thuộc địa danh nghĩa "khai hóa văn minh" đã mang những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái đến Việt Nam. Qua việc tiếp nhận nền giáo dục đó, người Việt Nam đã hấp thu các giá trị phù hợp để biến chúng thành công cụ giải quyết các vấn đề lịch sử của mình, thực hiện nhận định của C. Mác về việc "biến công cụ đồng hóa của kẻ thù thành công cụ vô ý thức của lịch sử", góp phần tạo lập di sản văn hóa cho tương lai.
- Giả thuyết 2: Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, việc giao lưu, hội nhập quốc tế về văn hóa và giáo dục có nguy cơ làm biến đổi tiêu cực và tổn hại các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nếu không phát huy vai trò của yếu tố nội sinh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tiếp biến văn hóa Pháp qua nền giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 1884 - 1945, bao gồm hai bộ phận: giáo dục do người Pháp tổ chức và giáo dục được người Pháp cho phép tổ chức (không đi sâu vào giáo dục truyền thống ít nhiều còn tồn tại và giáo dục tự phát trong các môi trường khác).
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1884 (khi ký kết Hiệp ước Patenôtre, xác lập sự bảo hộ của Pháp trên ba kỳ) đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 02/09/1945.
- Phạm vi không gian: Tại Việt Nam (gồm Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ) và có liên quan đến giáo dục tại chính quốc Pháp.
- Phạm vi nội dung: Tìm hiểu ảnh hưởng tích cực của văn hóa Pháp qua nền giáo dục giai đoạn 1884 - 1945 đối với văn hóa Việt Nam (không nghiên cứu chiều tác động ngược lại từ văn hóa Việt Nam sang văn hóa Pháp).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến nền giáo dục Việt Nam thời kỳ 1884 - 1945, phân chia thành ba nhóm quan điểm chính:
| Nhóm quan điểm |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Luận điểm chính được trích xuất từ văn bản |
| 1. Đánh giá giáo dục thời Pháp thuộc chỉ có hạn chế, tiêu cực |
- Nguyễn Lân (1958), Lịch sử Giáo dục học thế giới - Nguyễn Trọng Hoàng (1967), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử - Nguyễn Anh (1967), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử - Gail Kelly (1977, 1978), Franco - Vietnamese School, 1919-1938; Education and Colonialism - Vũ Ngọc Khánh (1985) - Lo Bianco, Joseph (2001) - Trần Bá Đệ (2005) - Bùi Minh Hiền (2005) - Trần Bích San - Trần Thị Hạnh (2012) |
Giáo dục là công cụ phục vụ mục đích thực dân, nô dịch tinh thần, "ngu dân để dễ trị", kìm hãm nhân dân trong vòng ngu muội; chương trình nặng tính nhồi sọ, xa rời thực tế; đào tạo công chức thừa hành nhỏ; chia rẽ ngôn ngữ và văn hóa bản địa; triệt tiêu tinh thần dân tộc. |
| 2. Đánh giá giáo dục thời Pháp thuộc có tính hai mặt (vừa hạn chế vừa đóng góp) |
- Leon Antoine (1991) - Nguyễn Đăng Tiến và cộng sự (1996) - Jean-Yves Martin (2001) - Pascale Bezancon (2002) - Đặng Phong (Lịch sử kinh tế) - Phan Ngọc Liên (2006) - Tạ Thị Thúy (2014, Lịch sử Việt Nam, tập 8) - Burlette, Julia Alayne Grenier - Trần Thị Phương Hoa - Trần Thị Ngọc Dư, Dominique Rolland, Nguyễn Thị Nhận, Bùi Trân Phượng (2011) |
Bên cạnh mục đích cai trị, nền giáo dục đã đưa mô hình trường học hiện đại, có hệ thống theo ngành dọc; phổ biến chữ Quốc ngữ; đưa các môn khoa học tự nhiên, xã hội, thể dục, vệ sinh vào nhà trường; đào tạo tầng lớp trí thức, cán bộ chuyên môn (bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo); hình thành ý thức cá nhân và tư duy phân tích duy lý. |
| 3. Bàn luận về tiếp biến văn hóa Pháp - Việt qua giáo dục |
- Dương Đức Nhu - Gail Paradise Kelly (1982), Gail Paradise Kelly & David H. Kelly - Mark McLeod (1991) - Trịnh Văn Thảo (1995/2009), Nhà trường Pháp ở Đông Dương - Chương Thâu - Pierre Brocheux, Daniel Hémery (2001) - Phan Ngọc - Phạm Quỳnh (Phương Đông và Phương Tây, Tiếp thụ) - Nhóm tác giả 100 năm Đông Kinh nghĩa thục... - Ngô Thế Long (về EFEO) - Trần Viết Nghĩa - Nguyễn Thụy Phương - Savitri Aditiany |
Lịch sử giáo dục thời kỳ này là cuộc đấu tranh giữa chính sách thực dân Pháp và chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Người Việt không tiếp nhận thụ động mà chủ động chọn lọc, "bản địa hóa" các yếu tố tiến bộ của văn hóa Pháp, sử dụng tri thức và phương tiện phương Tây để phục vụ mục tiêu giải phóng dân tộc và hiện đại hóa văn hóa. |
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây tiếp cận giáo dục giai đoạn 1884 - 1945 dưới góc độ lịch sử sự kiện, giáo dục học thực hành hoặc phê phán chính trị - tư tưởng. Luận án của Nguyễn Hoa Mai chọn hướng tiếp cận chuyên ngành Văn hóa học, xem xét nền giáo dục như một hiện tượng văn hóa (tiểu văn hóa) và là phương thức tiếp biến văn hóa, từ đó giải thích cơ chế "khúc xạ văn hóa" và khẳng định vai trò chủ động của chủ thể tiếp nhận Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm và học thuyết nền tảng:
- Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation):
- Tác giả điểm lại lịch sử khái niệm từ Franz Boas (nhấn mạnh hai quá trình truyền bá và biến đổi), Bản trích lục năm 1936 của Robert Redfield, Ralph Linton và Melville Herskovits (định nghĩa tiếp biến là hiện tượng xảy ra khi các nhóm cá thể có văn hóa khác nhau tiếp xúc trực tiếp và lâu dài, dẫn đến thay đổi mẫu hình văn hóa ban đầu), công trình năm 1953 tại Đại học Stanford của Siegel, Vogt, Watson và Broom, định nghĩa của UNESCO, và lý thuyết tâm lý học tiếp biến của J. Berry.
- Thuật ngữ này tại Việt Nam được nhiều học giả dịch và tiếp cận: "văn hóa hóa" (Nguyễn Khắc Viện), "hỗn dung văn hóa" (Nguyễn Đức Từ Chi), "đan xen văn hóa" (Trần Quốc Vượng), "tiếp biến văn hóa - tiếp xúc và biến đổi văn hóa" (Hà Văn Tấn), "giao hòa văn hóa" (Hoàng Ngọc Hiến), "tương tác văn hóa" (Hữu Ngọc), "chuyển giao văn hóa" (Hoài Hương). Luận án định nghĩa tiếp biến văn hóa là quá trình tiếp xúc lâu dài của hai hay nhiều nền văn hóa dẫn đến sự biến đổi mô thức văn hóa của một hay các nền văn hóa ấy.
- Luận án xác định hai phương thức tiếp biến trong giai đoạn 1884 - 1945: phương thức cưỡng bức (thông qua thể chế, chính sách áp đặt của chính quyền thực dân) và phương thức tự nguyện (người Việt chủ động tiếp xúc qua sách báo tân văn, tân thư, trường tư thục, các tổ chức văn hóa, phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ, du học).
- Lý thuyết khúc xạ văn hóa qua giáo dục:
- Khái niệm "khúc xạ" trong nghiên cứu văn hóa Việt Nam được Phan Ngọc sử dụng đầu tiên để giải thích hiện tượng Việt Nam hóa văn hóa Hán, văn hóa Pháp và văn hóa xã hội chủ nghĩa; tiếp tục được Nguyễn Xuân Kính khẳng định về việc tiếp thu văn hóa luôn có độ lệch do sự chọn lựa và bản địa hóa.
- Luận án xác định: Khúc xạ văn hóa qua giáo dục là ánh phản của nền văn hóa này khi tiếp xúc, giao lưu với nền văn hóa khác trong môi trường giáo dục, có độ chênh và sự khác biệt một phần với những gì ban đầu vốn có bởi tác động của nền văn hóa chủ thể tiếp nhận (yếu tố nội sinh quy định). Tiếp biến là quá trình tất yếu, khúc xạ là biểu hiện và kết quả.
- Khung phân tích 5 thành tố của nền giáo dục từ góc nhìn văn hóa học:
- Triết lý, tư tưởng giáo dục: Hệ thống quan điểm chỉ đạo, hạt nhân cốt lõi của nền giáo dục.
- Giá trị, chuẩn mực giáo dục: Cái có ích, tích cực được chủ thể quy định nhằm định hướng hành vi (dựa trên quan niệm giá trị của C. Kluckholn, Phạm Minh Hạc, Trần Ngọc Thêm).
- Thể chế, thiết chế giáo dục: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (thể chế) và bộ máy, cơ quan tổ chức vận hành nền giáo dục (thiết chế).
- Nhân cách giáo dục: Mẫu hình con người giáo dục, bao gồm nhân cách người dạy (nhà giáo, nhà quản lý) và người học (học sinh, sinh viên).
- Yếu tố ngoại hiện: Hệ thống biểu hiện trực quan hữu hình (trụ sở, biểu trưng, hình ảnh) và vô hình (nghi lễ, khẩu hiệu, bài hát, giai thoại).
- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin (quan hệ tồn tại xã hội - ý thức xã hội, cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng; luận điểm của V.I. Lênin về hai dòng văn hóa trong một nền văn hóa: dòng văn hóa thống trị và dòng văn hóa dân chủ của nhân dân) kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về sự giao thoa, chung đúc văn hóa Đông - Tây.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp liên ngành (văn hóa học, sử học, giáo dục học, nhân học, xã hội học - vận dụng quan điểm của Trần Ngọc Thêm); phương pháp chuyên gia (phỏng vấn các nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục, lịch sử); phương pháp so sánh - đối chiếu (so sánh các thời kỳ lịch sử, giữa ba kỳ và so sánh với thuộc địa khác của Pháp); phương pháp thu thập và phân tích tài liệu hồi cố; phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Nguồn dữ liệu:
Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Viện Thông tin Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội, Trung tâm Thông tin và các Viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cùng các nguồn tư liệu lưu trữ mở tại Pháp, Mỹ, Anh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương này tập trung hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về giáo dục Việt Nam giai đoạn 1884 - 1945 theo ba khuynh hướng đánh giá chính. Tác giả làm rõ các khái niệm công cụ: văn hóa, giáo dục, nền giáo dục, tiếp biến văn hóa, khúc xạ văn hóa. Đồng thời, chương 1 thiết lập khung lý thuyết gồm 5 thành tố của nền giáo dục từ góc nhìn văn hóa học và luận giải mối quan hệ giữa yếu tố nội sinh (bản sắc truyền thống Việt Nam) và yếu tố ngoại sinh (văn hóa phương Tây/Pháp) trong việc định hình kết quả tiếp biến.
Chương 2: Bối cảnh lịch sử và diễn trình của nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 1884-1945
Chương 2 phân tích bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam sau khi thực dân Pháp thiết lập nền thống trị thông qua Hiệp ước Harmand (1883) và Hiệp ước Patenôtre (1884). Tác giả trình bày diễn trình biến đổi của hệ thống giáo dục qua các mốc cải cách giáo dục quan trọng: từ giai đoạn thí nghiệm giáo dục Pháp - bản xứ tại Nam Kỳ (từ năm 1879), các cuộc cải cách giáo dục thời kỳ Toàn quyền Paul Bert, Paul Doumer, đến các cuộc cải cách quy mô lớn của Albert Sarraut (Học chính Tổng quy 1917) và các điều chỉnh giai đoạn 1924, 1930, 1941 - 1945.
Chương này sử dụng các bảng thống kê và biểu đồ thực tế để minh chứng cho quy mô và cơ cấu của hệ thống giáo dục qua từng thời kỳ:
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ THỐNG KÊ TRONG CHƯƠNG 2 |
| - Bảng 2.1: Số trường ở Bắc Kỳ năm học 1929 - 1930 |
| - Bảng 2.2: Số trường tư thục tiểu học |
| - Bảng 2.3: Số lượng trường tại các kỳ ở Đông Dương cấp sơ học và tiểu học |
| năm 1941 - 1942 |
| - Bảng 2.4: So sánh tỷ lệ đi học ở một số thuộc địa năm 1908 |
| - Bảng 2.5: Số lượng giáo viên và học sinh bậc cao đẳng tiểu học nữ |
| năm 1922 - 1923 |
| - Bảng 2.6: Ngành trung học và cao đẳng tiểu học nữ năm 1941 – 1942 |
| - Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ học sinh trong các lớp bậc tiểu học năm học 1924 - 1925 |
| - Biểu đồ 2.2: Số trường và học sinh trường tư thục các kỳ năm 1937 - 1938 |
| - Biểu đồ 2.3: Số trường và học sinh trường tư thục các kỳ năm 1941 - 1942 |
+---------------------------------------------------------------------------------------+
Số liệu cho thấy tỷ lệ đi học của người bản xứ ở Đông Dương năm 1908 còn ở mức thấp so với các thuộc địa khác; sự phân bố trường lớp giữa ba kỳ có độ chênh lệch rõ rệt (Nam Kỳ có tỷ lệ trường lớp và học sinh cao hơn Bắc Kỳ và Trung Kỳ); sự phát triển của hệ thống trường tư thục và các lớp sơ học, tiểu học trong giai đoạn 1937 - 1942 phản ánh nhu cầu học tập tự thân của xã hội Việt Nam.
Chương 3: Sự khúc xạ văn hóa Pháp trong nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 1884-1945
Chương 3 là chương trọng tâm khảo sát cụ thể mức độ khúc xạ văn hóa Pháp vào nền giáo dục Việt Nam qua 5 thành tố:
- Triết lý, tư tưởng giáo dục: Sự xung đột và đan xen giữa tư tưởng giáo dục thực dân (nhằm đồng hóa, đào tạo tay sai) với tư tưởng giáo dục khai phóng, duy tân của các trí thức Việt Nam (Đông Kinh nghĩa thục, các nhà cách mạng). Người Việt tiếp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng của triết học Ánh sáng Pháp (Rousseau, Montesquieu, Voltaire) nhưng chuyển hóa thành tư tưởng giải phóng dân tộc.
- Giá trị, chuẩn mực giáo dục: Chuyển dịch từ hệ giá trị Nho giáo (trung quân, học thuộc lòng, từ chương, trọng nam khinh nữ) sang hệ giá trị thực tiễn, khoa học, duy lý, bình đẳng giới (giáo dục nữ sinh xuất hiện tại các trường Đồng Khánh, Áo Tím), đưa nội dung vệ sinh, thể dục và khoa học ứng dụng vào đời sống.
- Thể chế, thiết chế giáo dục: Sự chuyển đổi từ chế độ trường ốc Nho học phân tán sang hệ thống trường học chính quy, phân cấp rõ ràng theo mô hình công nghiệp phương Tây (sơ học, tiểu học, cao đẳng tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học); sự ra đời của Nha Học chính Đông Dương và các Sở Học chính địa phương song song với hệ thống trường tư thục của người Việt.
- Nhân cách giáo dục: Sự xuất hiện của mẫu hình nhà giáo tân học vừa am hiểu văn hóa phương Tây vừa giữ vững đạo đức dân tộc; hình thành tầng lớp trí thức mới ("thầy giáo và học sinh Đỏ", các trí thức cách mạng và chuyên gia khoa học kỹ thuật) có tư duy phân tích, phản biện, nuôi dưỡng tinh thần yêu nước.
- Yếu tố ngoại hiện: Sự thay đổi trong không gian trường học (kiến trúc trường Pháp - Việt, phòng thí nghiệm, sân thể thao), đồng phục học sinh, nghi thức học đường, việc sử dụng sách giáo khoa chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, báo chí học đường.
Chương 4: Ý nghĩa của thành tựu tiếp biến văn hóa Pháp qua nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 1884-1945
Chương này đánh giá các thành tựu của quá trình tiếp biến văn hóa trên hai bình diện:
- Với văn hóa Việt Nam đương thời: Nền giáo dục mới thúc đẩy sự phổ biến sâu rộng của chữ Quốc ngữ; kích thích sự phát triển của văn học hiện đại, báo chí, dịch thuật và xuất bản; hình thành tầng lớp trí thức Tây học có vai trò quyết định trong các phong trào vận động xã hội và cách mạng giải phóng dân tộc; tái cấu trúc hệ thống tư duy dân tộc từ tư duy kinh viện sang tư duy duy lý, khoa học.
- Với nền giáo dục Việt Nam hiện nay: Cung cấp bài học kinh nghiệm về việc xử lý mối quan hệ giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh; phương thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc khi mở cửa hội nhập quốc tế; giải bài toán hiện đại hóa giáo dục trên nền tảng truyền thống văn hóa dân tộc.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận và phương pháp:
- Luận án là công trình tiếp cận nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 1884 - 1945 từ góc nhìn văn hóa học, cụ thể là lý thuyết tiếp biến văn hóa và cơ chế khúc xạ văn hóa, thay vì các góc nhìn lịch sử chính trị hay giáo dục học đơn thuần.
- Đề xuất và vận dụng khung phân tích 5 thành tố nền giáo dục (triết lý - tư tưởng; giá trị - chuẩn mực; thể chế - thiết chế; nhân cách giáo dục; yếu tố ngoại hiện) như một mô hình phương pháp luận để nghiên cứu các hiện tượng văn hóa - giáo dục cận hiện đại.
- Làm rõ cơ chế nội sinh hóa các giá trị văn hóa ngoại sinh: chứng minh rằng sức mạnh nội sinh của văn hóa Việt Nam đóng vai trò quyết định trong việc chọn lọc, biến đổi các yếu tố giáo dục phương Tây thành công cụ phục vụ mục tiêu dân tộc.
- Về mặt thực tiễn và bài học kinh nghiệm:
- Khẳng định giá trị di sản của nền giáo dục thời kỳ 1884 - 1945 đối với sự hình thành diện mạo văn hóa Việt Nam hiện đại, đặc biệt là vai trò của chữ Quốc ngữ, báo chí, thể chế trường học và đội ngũ trí thức tân học.
- Rút ra bài học cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay: Đổi mới giáo dục phải gắn liền với đổi mới văn hóa; chủ động hội nhập quốc tế nhưng phải dựa chắc trên hệ giá trị nội sinh dân tộc; tiếp thu tinh hoa khoa học, phương pháp quản trị giáo dục hiện đại của thế giới mà không làm mất đi bản sắc và mục tiêu phục vụ con người Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo tác giả trình bày, quá trình tiếp cận tài liệu sơ cấp gặp khó khăn do tư liệu lịch sử đã quá cũ (nhiều tài liệu gần 100 năm), một số nguồn lưu trữ bị hạn chế quyền tiếp cận hoặc đòi hỏi điều kiện học tập tại nước ngoài. Về phạm vi nội dung, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu chiều tác động của văn hóa Pháp tới văn hóa Việt Nam qua giáo dục, chưa nghiên cứu chiều tác động ngược lại của văn hóa Việt Nam đối với văn hóa Pháp. Đồng thời, luận án chưa đi sâu khảo sát bộ phận giáo dục truyền thống Nho học còn sót lại và các hình thức giáo dục tự phát ngoài hệ thống chính thức.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tương tác văn hóa hai chiều Việt - Pháp trong giáo dục; so sánh đối chiếu sâu hơn mô hình giáo dục thuộc địa tại Việt Nam với các nước khác trong khối thuộc địa Pháp (như Bắc Phi, Tây Phi, Lào, Campuchia); khảo sát sự tiếp nối và biến đổi của các di sản giáo dục Pháp tại Việt Nam giai đoạn sau năm 1945 đến nay.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Văn hóa học, Lịch sử, Giáo dục học, Xã hội học: Cung cấp khung phân tích 5 thành tố của nền giáo dục dưới lăng kính văn hóa học; cung cấp tài liệu tổng quan tình hình nghiên cứu chi tiết và hệ thống tư liệu lịch sử giáo dục cận đại đã được phân loại.
- Nhà quản lý, hoạch định chính sách giáo dục và văn hóa: Tham khảo cơ chế xử lý mối quan hệ giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh để phục vụ việc triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và Nghị quyết 33-NQ/TW về phát triển văn hóa, con người trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp 4.0.
- Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Khung lý thuyết về khúc xạ văn hóa qua giáo dục (Chương 1) và nội dung phân tích sự biến đổi của 5 thành tố giáo dục Pháp - Việt (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia cấu trúc nền giáo dục thành những thành tố nào từ góc nhìn văn hóa học?
Luận án mô hình hóa nền giáo dục thành 5 thành tố cơ bản: (1) Triết lý, tư tưởng giáo dục; (2) Giá trị, chuẩn mực giáo dục; (3) Thể chế, thiết chế giáo dục; (4) Nhân cách giáo dục; (5) Yếu tố ngoại hiện (gồm cả yếu tố hữu hình và vô hình).
2. Khái niệm "khúc xạ văn hóa qua giáo dục" được luận án định nghĩa như thế nào?
Khúc xạ văn hóa qua giáo dục được hiểu là ánh phản của nền văn hóa này khi tiếp xúc, giao lưu với nền văn hóa khác trong môi trường giáo dục, có độ chênh và sự khác biệt một phần với những gì ban đầu vốn có bởi tác động của nền văn hóa chủ thể tiếp nhận. Sự khác biệt này do yếu tố nội sinh của nền văn hóa chủ thể quy định; tiếp biến là quá trình tất yếu, khúc xạ là biểu hiện và kết quả.
3. Luận án xác định những phương thức tiếp biến văn hóa nào trong nền giáo dục giai đoạn 1884 - 1945?
Luận án xác định hai phương thức tiếp biến song song: phương thức cưỡng bức (chính sách giáo dục áp đặt của chính quyền thực dân Pháp nắm quyền thống trị chính trị) và phương thức tự nguyện (người Việt Nam chủ động tiếp xúc, tiếp nhận qua sách báo tân thư, trường tư thục, phong trào Đông Kinh nghĩa thục, Hội truyền bá Quốc ngữ và du học sinh).
4. Luận điểm nào của V.I. Lênin được tác giả vận dụng làm cơ sở phương pháp luận?
Tác giả vận dụng quan điểm của V.I. Lênin về hai dòng văn hóa trong một nền văn hóa (dòng văn hóa của giai cấp thống trị và dòng văn hóa dân chủ của nhân dân) để giải thích sự tồn tại song song của hai dòng giáo dục tại Việt Nam giai đoạn 1884 - 1945: dòng giáo dục do người Pháp tổ chức nhằm phục vụ cai trị và dòng giáo dục do người Việt Nam tổ chức/chuyển hóa nhằm nâng cao dân trí và giải phóng dân tộc.
5. Vì sao luận án không nghiên cứu chiều tác động của văn hóa Việt Nam đối với văn hóa Pháp?
Theo phạm vi nghiên cứu đã xác định, luận án tập trung làm rõ ảnh hưởng tích cực của văn hóa Pháp qua giáo dục đối với sự biến đổi của văn hóa Việt Nam nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu và trả lời cho câu hỏi về sức mạnh nội sinh của dân tộc trong việc giải quyết các nhiệm vụ lịch sử đương thời.
Kết luận
Luận án Tiếp biến văn hóa Pháp - Việt trong nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 1884 - 1945 của tác giả Nguyễn Hoa Mai là công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa học, tiếp cận hệ thống giáo dục thời kỳ thuộc địa như một tiểu văn hóa và phương thức trao truyền văn hóa. Bằng việc xây dựng khung phân tích 5 thành tố và vận dụng lý thuyết khúc xạ văn hóa, luận án đã làm sáng tỏ tính chủ động của người Việt Nam trong việc tiếp thu chọn lọc các giá trị giáo dục phương Tây để giải quyết yêu cầu lịch sử của dân tộc. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần nhận thức lại một giai đoạn lịch sử văn hóa - giáo dục cận đại mà còn cung cấp những bài học thực tiễn cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.