Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục bộ môn Giáo dục công dân bậc Trung học phổ thông. Chương 2: Tình hình giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Giáo dục và mục tiêu giáo dục Mục tiêu giáo dục Giáo dục (Tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu.
Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Theo đó, các yếu tố tương tác trong quá trình giáo dục là người dạy - người học - mục tiêu - nội dung - phương pháp - môi trường dạy học, trong đó mục tiêu của chương trình giáo dục chi phối đến toàn bộ các yếu tố khác.1] Tại Việt Nam, khái niệm giáo dục được Giáo sư Hồ Ngọc Đại đưa ra như sau: Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu để từ đó tìm ra, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thỏa mãn được quan điểm, sở thích và thế mạnh của bản thân. Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác, chủ động đến con người, đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức nhân cách.12] Có thể thấy: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của nhà giáo dục đến người được giáo dục thông qua việc tổ chức các hoạt 11 động đa dạng với những hình thức và các phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi để hình thành những phẩm chất của người công dân đáp ứng yêu cầu của xã hội và thời đại. Theo quy định tại Điều 2, Điều 3 của Luật Giáo dục thì mục tiêu, tính chất và nguyên lý giáo dục nước ta được xác định như sau: Một là, mục tiêu giáo dục và đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẫm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Ba là, hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.17] Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và nhiệm vụ đến năm 2000 nêu rõ: “nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị vǎn hoá của dân tộc, có nǎng lực tiếp thu tinh hoa vǎn hoá nhân loại; phát huy tiềm nǎng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện 12 đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ nǎng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật; có sức khoẻ, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" như lời dặn của Bác Hồ”. Bên cạnh đó, nghị quyết còn nhấn mạnh: "Thực sự coi giáo dục - đào tạo, là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tǎng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển.
Thực hiện các chính sách ưu tiên ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương, có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục". Điều 2 Luật Giáo dục cũng đã ghi: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.6] Với mục tiêu như trên, trong hàng chục năm qua, giáo dục Việt Nam đã đào tạo và cung cấp cho xã hội đội ngũ nhân lực về cơ bản đáp ứng được yêu cầu sử dụng của các ngành nghề, cơ quan, đơn vị. Ngay từ năm 1945, trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam", chính là đào tạo con người xã hội, và "một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em", chính là đào tạo con người cá nhân. Ðó là mục tiêu chung về nhân cách con người mà đổi mới giáo dục và đào tạo hướng đến.
Sự đổi mới về mục tiêu như vậy cũng đòi hỏi chuyển từ một nền giáo dục giúp người học "học được cái gì" sang học thì phải "làm được cái gì". Nói một cách khác hơn: là giáo dục con người phải có cả kiến thức, kỹ năng để có 13 thể vận dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn. Chính vì thế, mục tiêu giáo dục của Nhà nước ta hiện nay là: Thứ nhất: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
Thứ hai: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông được nêu rõ trong các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước. Theo Điều 27 Luật Giáo dục Việt Nam khẳng định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.9] Mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông được nêu rõ trong các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước. Theo Điều 27 Luật Giáo dục Việt Nam khẳng định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí 14 tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.2 Vị trí, vai trò của bộ môn Giáo dục công dân Môn GDCD là một học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Giáo dục công dân là một bộ môn khoa học được đưa vào giảng dạy ở hai cấp học: Trung học cơ sở và Trung học phổ thông. Nó vừa có vị trí thông thường của một môn học, vừa có vị trí đặc biệt riêng của nó. Về vị trí thông thường, môn GDCD được xếp ngang hàng với các môn học khác, có nhiệm vụ trang bị tri thức, kĩ năng, giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em học sinh.
Ở vị trí đặc biệt, môn GDCD có những đặc điểm riêng, khác biệt so với những môn học khác. Môn GDCD chứa đựng một khối lượng tri thức công dân, nó thể hiện ngay ở tên gọi môn học; dạy và học để làm người công dân, trở thành người công dân đúng với chuẩn mực xác định. Nội dung chủ đề của môn học này rất đa dạng: từ những kiến thức gần gũi, thiết thực với học sinh đến những vấn đề lớn của quốc gia, của nhân loại; từ những vấn đề thường nhật đến những vấn đề trừu tượng, khái quát hóa như: triết học, thế giới quan, nhân sinh quan, lí tưởng xã hội chủ nghĩa,.