Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE VI PHAM PHÁP LUAT VE CHAM DUT HOP DONG LAO DONG O VIET NAM 1. Khái niệm cham dứt Hop đồng lao động va vi phạm pháp luật về chấm dứt Hợp đồng lao động 1. Chấm dứt Hop dong lao động Cũng như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật lao động không phải là một hiện tượng bat biến mà là một hiện tượng động, nghĩa là nó có quá trình phát sinh, thay đôi và cham dứt khi xuất hiện những sự kiện pháp lý nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, khi mà các QHLĐ đã có sự “thay đổi về chất”[20], không còn mang nặng tính hành chính, mệnh lệnh được thiết lập và đảm bảo băng biên chế Nhà nước trước đây mà thay vào đó là tính tự nguyện và bình dang, thì hình thức pháp ly của chúng không thé là các quyết định tuyển dụng mà phải là HDLD.
Khi đó, ký kết HDLD là sự kiện pháp lý chủ yếu và phổ biến nhất làm phát sinh QHLD trong nền kinh tế thị trường. Cham dứt HDLD là một trong các sự kiện pháp ly làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động, chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà các bên đã thỏa thuận trong HĐLĐ. Đây là một sự kiện có vai trò hết sức quan trọng và đòi hỏi pháp luật phải có những quy định hết sức chặt chẽ. Bởi lẽ, với sự kiện này, các chủ thể trong quan hệ HĐLĐ sẽ được giải phóng khỏi những quyền và nghĩa vụ đã từng ràng buộc họ trước đó, đồng thời có thé gây ra những hậu quả khó lường đối với các bên chủ thé và xã hội.
Do đó, thực hiện mục đích bình ôn QHLD, bảo vệ lợi ích của NLD, NSDLD cũng như lợi ich cua Nhà nước và xã hội, Nhà nước quy định khá chặt chẽ về van dé cham dứt HĐLĐ. Vi van đề cham dứt HDLD là một nội dung quan trọng trong chế định HDLD nên sự hình thành và phát triển các quy định về cham dứt HDLD luôn gan liền với sự phát triển của pháp luật HDLD. Hai văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta sau năm 1945 về HĐLĐ là Sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định về cham ditt HĐLĐ như sau: Chủ hoặc thợ bãi khế ước làm công phải có lý do, trừ trường hợp việc làm công trong khế ước là không định hạn, vì theo Điều 23 Sắc lệnh 29/SL quy định: Đối với việc làm công không định hạn thì chủ và thợ, bất cứ lúc nào cũng có thể tự mình thôi được nhưng phải báo trước trong thời hạn và trong trường hợp do Bộ trưởng Bộ lao động ấn định. Chủ hoặc thợ bãi khế ước thì phải báo cho bên kia một thời hạn nhất định theo yêu cầu của pháp luật.
Ngoài ra, Điều 28 Sắc lệnh 29/SL có quy định: Công nhân khi phải thi hành nghĩa vụ huấn luyện quân sự, hay làm phận sự binh bị trong một thời hạn thì không được bãi bỏ khế ước làm công. Ngoài ra Sắc lệnh còn dự liệu trước những chế tài áp dụng cho chủ thể có hành vi vi phạm cụ thể. Tuy nhiên, sắc lệnh 29/SL lại không có quy định về những trường hợp mà người chủ hoặc người thợ có quyền đơn phương chấm dứt khế ước làm công, vì vậy căn cứ để xác định tính hợp pháp trong những trường hợp này là khó khăn. Kể từ khi nước ta chuyền từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang phát triển nên kinh tế hàng hóa nhiều thành phan theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kéo theo những yêu cầu đôi mới về pháp luật lao động trong đó có chế định về HDLD và vấn đề cham dứt HDLD được quan tâm thỏa đáng hơn.
Theo Điều 47 quyết định 217/HDBT ngày 14/11/1987, các xí nghiệp quốc doanh chuyển dần chế độ tuyển dụng vào biên chế Nhà nước sang chế độ HDLD. Trong quá trình thực hiện HDLD, Giám đốc xí nghiệp có thé đơn phương chấm dứt HDLD khi có những căn cứ được pháp luật dự liệu trước. Những quy định này được hướng dẫn trong Thông tư 01/TT-BLĐ ngày 09/11/1988, chủ yếu là do NLD vi phạm quy định pháp luật của Nhà nước hoặc thỏa thuận trong HĐLĐ thi xí nghiệp có quyền cho NLD thôi việc. Ngoài ra QD 217/HĐBT có quy định thời hạn báo trước là 30 ngày cho NLD biết.
Đối với NLD, ho cũng có quyền cham dứt HDLD nhưng phải có sự đồng ý của NSDLĐ thông qua hành vi xin thôi việc. Có thé thấy, Quyết định số 217/HDBT và Thông tư 01/TT-BLĐ đã thé hiện khá rõ những căn cứ xác định tính hợp pháp trong việc cham dứt HĐLĐ của NLD va NSDLD. Sau những bước di đầu có tính thử nghiệm và đạt hiệu quả, Đảng và Nhà nước ta đã tiếp tục ban hành một số văn bản quy định đầy đủ và chi tiết hơn về HDLD, thé hiện sự nhất quán với đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do là quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định 233/HDBT ngày 22/06/1990 và Pháp lệnh HDLD ngày 30/08/1990.
Trong các văn bản trên, NSDLĐ muốn đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLD phải có một trong những căn cứ sau: - NLĐ thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ theo hợp đồng hoặc bỏ việc liên tục không rõ lý do; - NLĐ có hành vi trộm cắp tài sản, tham ô,. - NLĐ ốm đau, bị thương tật đã điều trị 6 tháng liên tục mà mất khả năng lao động chưa hồi phục được; - Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc các lý do bất khả kháng khác mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục, nhưng vẫn phải thu hẹp sản xuất; - Cơ quan, xí nghiệp, co sở sản xuất kinh doanh giải thé hoặc bị thanh lý tài san.[36] Bên cạnh đó, NLD cũng có thé cham dứt HDLD khi nêu rõ được các lý do đối với hợp đồng có xác định thời hạn hoặc HDLD theo một công việc nhất định. Đối với các HDLD không xác định thời hạn, NLD có quyền đơn phương chấm dứt HDLD và chỉ phải báo trước cho NSDLĐ biết (theo Khoản 1 Điều 21 Pháp lệnh HDLD). Dễ dàng nhận thấy điểm tiến bộ rõ nét nhất trong hai văn bản trên là xu hướng bảo vệ NLD trong việc cham dứt HDLD.
Pháp lệnh đã quy định rõ quyền đơn phương cham dứt HĐLĐ của NLD thay vì quyền xin thôi việc của NLD trong Quyết định 217/HDBT. Tuy nhiên, đối với trường hợp HDLD xác định thời hạn hoặc HDLD theo mùa vụ, công việc nhất định khi kết thúc mà NLD tiếp tục làm việc lại có sự không thống nhất trong quy định giữa Pháp lệnh HDLD va Quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vén dau tư nước ngoài ban hành kèm Nghị định 233/HDBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 22/06/1990. Theo Điều 14 Pháp lệnh HĐLĐ thì trường hợp này HDLD đã hết hạn sẽ mặc nhiên tiếp tục có hiệu lực cho đến ngày một trong hai bên tuyên bố chấm dứt. Như vay, việc cham dứt HDLD của cả hai bên luôn đảm bảo tính hợp pháp về căn cứ.
Trong khi đó hướng giải quyết của Quy chế lao động đối với xí nghiệp có von đầu tư nước ngoài lại theo hướng thừa nhận HDLD đã hết hạn trở thành HDLD không xác định thời hạn, theo đó NLD có quyền đơn phương cham dứt QHLD với bat cứ lý do nào mà không bị coi là trái pháp luật, còn NSDLD muôn cham dứt HDLD phải có căn cứ cham dứt và thực hiện những nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Điều này đã tạo nên sự không thống nhất trong quy định của pháp luật, sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. BLLĐ ra đời sau đó đã thông nhất các quy định điều chỉnh quan hệ HĐLĐ. Với những nội dung kế thừa cùng những điểm mới trong chế định HDLD đã va đang giải 9 quyết được những yêu cầu mà thực tế QHLĐ đã và đang đặt ra, trong đó có vẫn đề cham dứt HĐLĐ.
Đến nay, BLLĐ 2012 được ban hành thì vai trò này càng được thé hiện rõ nét hơn. Chấm dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý rất quan trọng liên quan đến sự tồn tại của QHLD. Việc làm, tiền lương, thu nhập của NLD cũng như kế hoạch sản xuất kinh doanh của NSDLD trong một sé trường hợp bi anh hưởng, thiệt hại khi HDLD chấm dứt. Thực hiện mục đích bình ôn QHLD, bảo vệ lợi ích của NLD, NSDLD cũng như lợi ích của Nhà nước và xã hội, Nhà nước quy định khá chặt chẽ về van đề chấm dứt HĐLĐ.
Cham dứt HDLD là một nội dung quan trọng thuộc chế định HĐLĐ trong BLLD va sự tuân thủ các quy định đó là nghĩa vụ của NSDLD và NLD trong quá trình thiết lập, duy trì và cham dứt HDLD. Tóm lai, cham dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý làm cham dứt quan hệ lao động được thực hiện bằng hành vi pháp lý của một hoặc cả hai bên chủ thể hợp đồng lao động hay của người thứ ba có thẩm quyên hoặc do sự biến pháp lý không phụ thuộc vào ý chí của con người. Cham dứt HDLD có hai đặc điểm cơ ban sau: Thứ nhất là tính đa dạng của các sự kiện pháp lý. Nếu như khi tạo lap HĐLĐ, NLD và NSDLD phải cùng nhau thỏa thuận về nội dung của hợp đồng và nếu như không có sự thống nhất ý chí thì sẽ không có bat cứ một HDLD nào được xác lập, thi việc cham dứt HDLD có những trường hợp do ý chí của NLD va NSDLĐ, có những trương hợp lại do ý chí của người thứ ba hoặc khi có những sự kiện bất khả kháng.
Về mặt hành vi, nếu việc tạo lập HDLD phải do hai chủ thé là NLD và NSDLĐ thực hiện thì việc chấm dứt HDLD lại có thé do ý chí của cả hai bên hoặc do một bên chủ thể quyết định. Ngoài ra, HDLD cũng chấm dứt khi NLD bị kết án tù giam, bị cắm làm công việc cũ hoặc khi NLD bị chết, mat tích theo tuyên bố của Tòa án. Như vậy, nếu việc tao lập và duy trì quan hệ HDLD nhất định phải phụ thuộc vào ý chí của các bên thì việc cham dứt HĐLĐ lại có thé xảy không phụ thuộc vào ý chí của bên nào. Thứ hai là, chấm dứt HDLD tạo ra những hậu quả pháp ly đa dạng.
Khi cả hai bên hoặc một bên đơn phương cham dứt HDLD thường làm phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định.