Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại Nhật Bản. Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Luan van 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƢỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 1.
Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 1. Khái niệm, đặc điểm về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Hoạt động về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hay còn được gọi tên phổ biến là xuất khẩu lao động. Xuất khẩu lao động có thể được hiểu là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động. Ngày nay, di cư lao động đã diễn ra trên toàn cầu và tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của mỗi quốc gia.
Theo Tổ chức lao động Quốc Tế (sau đây viết tắt là ILO) ước tính trung bình cứ 25 người lao động trên thế giới thì có 1 người là lao động di cư. Số lượng lao động di cư trên thế giới trong những thập kỷ gần đây gia tăng nhanh chóng đã đặt ra yêu cầu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động di cư và là vấn đề đối với tất cả các quốc gia tiếp nhận và quốc gia đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Thúc đẩy lao động di cư hợp pháp, phòng chống lao động di cư trái phép, đảm bảo lao động di cư an toàn và bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người đi lao động ở nước ngoài là mục tiêu chung của nhiều quốc gia trên thế giới và cũng là chính sách nhất quán của chính phủ Việt Nam. Pháp luật quốc tế, khu vực và pháp luật quốc gia về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài cần liên quan chặt chẽ với nhau nhằm tạo cơ chế chung trên bình diện toàn cầu về bảo vệ người lao động di cư.
Luan van 10 Di cư lao động ra nước ngoài để tìm kiếm việc làm là nhu cầu chính đáng và cần được thực hiện theo quy định pháp luật để đảm bảo đáp ứng cung ứng lao động bền vững. Vì vậy, những năm gần đây, cụ thể theo thông cáo năm 2019 Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) khuyến nghị sử dụng các thuật ngữ “di cư lao động”, “dịch chuyển lao động”, "đi làm việc ở nước ngoài" hay "đi lao động ở nước ngoài" thay vì “xuất khẩu lao động” bởi đứng trên lập trường quan điểm lao động không phải là hàng hóa. Quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sử dụng thuật ngữ “người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”. Cụ thể tại Luật 69 năm 2020 có hiệu lực từ 01/01/2022 đã nêu: “Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài” [32, tr.
Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng có các đặc điểm sau: Thứ nhất: Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng là một hoạt động mang tính kinh tế đối ngoại đặc biệt. Bởi vì, đây là một hoạt động kinh tế đặc biệt trong đó một bên (được gọi là bên tổ chức đưa lao động) tới làm việc tại một quốc gia hay khu vực lãnh thổ khác trong một thời gian nhất định nhằm thu được lệ phí từ một bên (được gọi là bên tiếp nhận lao động). Bên tiếp nhận lao động có trách nhiệm quản lí và tổ chức lao động theo đúng các điều kiện đã thỏa thuận và phù hợp với các qui định của Nhà nước. Đồng thời, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài còn để thỏa mãn lợi ích kinh tế của chính người lao động khi đi làm việc ở nước ngoài.
Một ý nghĩa kinh tế nữa chính là đóng góp quan trọng làm tăng thu ngoại tệ từ đó gia tăng thêm nguồn ngân sách của Nhà nước. Luan van 11 Thứ hai: Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội. Tính xã hội còn bắt nguồn từ tính chất đặc biệt của hoạt động dịch chuyển lao động bao hàm các yếu tố thể chất và tinh thần của chính lao động đó, gắn liền với nền văn hóa và lịch sử nên nó mang tính xã hội sâu sắc. Do vậy, mọi chính sách, pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực xuất khẩu lao động phải kết hợp với các chính sách xã hội.
Pháp luật là phương tiện để giải quyết khía cạnh “xã hội” của đời sống như phòng, chống và khắc phục hậu quả trong các trường hợp bất khả kháng chiến tranh, thiên tai, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ người lang thang, cơ nhỡ…, các trường hợp rủi ro. Pháp luật cũng bảo đảm cho các chủ thể được ngang quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm với nhau trong những mối quan hệ xã hội nhất định. Thứ ba: Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng là một hoạt động có tổ chức được nhà nước cho phép và bảo hộ. Thứ tư: Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng là một hoạt động kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động tự chịu trách nhiệm của tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Giai đoạn 1980-1990, Việt Nam tham gia thị trường lao động quốc tế, về cơ bản Nhà nước vừa quản lý Nhà nước vừa quản lý về hợp tác lao động với nước ngoài, Nhà nước làm thay cho các tổ chức kinh tế về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng. Ngày nay, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế thì hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng có sự tham gia của các tổ chức là doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức xã hội nghề nghiệp thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký. Như vậy, các hiệp định, các thoả thuận song phương mà Chính phủ các nước ký kết mang tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô. Các tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì chịu trách nhiệm hoàn toàn về hiệu quả kinh tế trong hoạt động của mình.
Luan van 12 Thứ năm: Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng phải đảm bảo lợi ích của ba bên tham gia: Nhà nước - Các tổ chức phái cử - người lao động. Trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, lợi ích kinh tế của Nhà nước là dòng ngoại tệ mà người lao động gửi về và các khoản nộp thuế, nghĩa vụ tài chính của các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Lợi ích của các tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là các khoản thu được từ các tổ chức tiếp nhận lao động ngoài nước và từ phía người lao động. Còn lợi ích của người lao động là khoản thu nhập từ hợp đồng làm việc ở nước ngoài thường là cao hơn nhiều so với lao động ở trong nước.
Do vậy, các chế độ chính sách của Nhà nước phải đảm bảo được sự hài hoà lợi ích của các bên, trong đó phải chú ý đến lợi ích trực tiếp của người lao động. Thứ sáu: Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng đang diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tính gay gắt trong cạnh tranh của hoạt động lao động nước ngoài xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu. Một là, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm, tăng nguồn thu ngoại tệ đã buộc các nước phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước.
Hai là sự suy giảm kinh tế trong khu vực khiến nhiều quốc gia tiếp nhận cũng đang phải đối đầu với tỉ lệ thất nghiệp trong nước ngày càng gia tăng: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia….Vì vậy, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là giải pháp chung cho kinh tế - lao động - việc làm của các quốc gia đang phát triển. Hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài “Hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với người lao động về quyền, nghĩa vụ của mỗi bên trong việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Luan van 13 “Hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải thỏa thuận rõ quyền, nghĩa vụ của mỗi bên và phù hợp với nội dung của hợp đồng cung ứng lao động; ghi rõ thỏa thuận về tiền dịch vụ và chi phí khác của người lao động (nếu có). Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là hoạt động đặc thù mà các bên tham gia phải thực hiện ký kết nhiều loại Hợp đồng như sau: “Hợp đồng cung ứng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của Việt Nam với bên nước ngoài về điều kiện, nghĩa vụ của các bên trong việc cung ứng và tiếp nhận người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.” “ Hợp đồng môi giới là văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian về việc giới thiệu bên nước ngoài tiếp nhận lao động Việt Nam để giao kết hợp đồng cung ứng lao động theo quy định của pháp luật.