MỞ ĐẦU Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 02-9-1945. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần phải làm ngay của Chính phủ mới. Một trong những nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng Hiến pháp. Ngày 28- 10-1946, kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I đã khai mạc.
Sau hơn mười ngày làm việc khẩn trương, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự nhất trí của 240/242 đại biểu dự họp vào ngày 09-11-1946. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 là một bản hiến văn ngắn, bao gồm lời nói đầu, 7 chương với 70 điều. Có thể nói, Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, là một bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém một bản hiến pháp nào trên thế giới. Nó là bản hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện, trong đó có đề cao vai trò của Nhân dân, quyền lực của Nhân dân trong Nhà nước.
Hiến pháp năm 1946 khẳng định, tất cả mọi “quyền bính” trong nước là của nhân dân Việt Nam. Điều này cũng được các Hiến pháp sau đó tiếp tục khẳng định, đặc biệt tại Điều 2 Hiến pháp 2013 nhấn mạnh: “Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền * Trường Đại học Mỏ - Địa chất 22 lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”1. Điều đó cho thấy, tư tưởng về quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trong Hiến pháp năm 1946 cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Quyền lực nhà nước và quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân 1.
Khái niệm quyền lực và quyền lực nhà nước Quyền lực là khả năng của chủ thể này buộc các chủ thể khác phục tùng ý chí của mình, song trong nhiều trường hợp, quyền lực không phải là khả năng vốn có của chủ thể mà là khả năng do các chủ thể khác mang lại (giao cho). Theo từ điển Tiếng Việt thì “Quyền lực là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy”2. Trong xã hội hiện đại có nhiều loại quyền lực như quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế, quyền lực nhà nước, quyền lực tôn giáo,. trong đó, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước là hai loại quyền lực quan trọng và có quan hệ mật thiết với nhau.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Ăngghen đã viết “Quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác”3. Khi phân tích bản chất của nhà nước, C.Ăngghen khẳng định “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy trấn áp của giai cấp này đối với một giai cấp khác”4. Như vậy, trong một nhà nước có một đảng cầm quyền thì rất khó phân biệt rạch ròi giữa quyền lực nhà nước với quyền lực chính trị của đảng cầm quyền. Quyền lực chính trị là quyền lực thống nhất của một giai cấp hay của một liên minh giai cấp, không thể phân chia quyền lực trong các lĩnh vực hoạt động như quyền lực nhà nước phân chia thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Khi một giai cấp hay một liên minh giai cấp cầm quyền thì quyền lực chính trị được thực hiện trước hết thông qua các cơ quan nhà nước và nó chỉ có thể 1. Báo Nhân dân: Hiến pháp năm 2013, sự kết tinh ý chí, trí tuệ toàn dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển học: Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003, tr.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 23 bị chia sẻ khi liên minh giai cấp cầm quyền thành lập chính phủ liên hiệp1.
Chính vì thế, có nhà nghiên cứu cho rằng, trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp thì quyền lực chính trị là nội dung bản chất của quyền lực nhà nước, mặc dù xét về bản chất thì quyền lực nhà nước luôn đại diện cho quyền lực công cộng. Cùng với sự hình thành của nhà nước với tư cách là bộ máy quyền lực công cộng, các lực lượng xã hội, các giai cấp đều muốn chiếm giữ quyền lực công cộng đó để phục vụ lợi ích của mình và khi giai cấp mạnh nhất giành được bộ máy quyền lực nhà nước thì giai cấp đó trở thành chủ sở hữu quyền lực chính trị2. Những ý kiến trên đây về quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước đã căn cứ vào một luận điểm rất quan trọng của V.Lênin là: “Vấn đề chính quyền nhà nước nhất định là vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng. Giai cấp nào giữ chính quyền? Điều đó quyết định tất cả”3.
Từ sự phân tích ở trên cho thấy, quyền lực nhà nước là quyền lực gắn liền với sự ra đời của nhà nước, thể hiện sức mạnh của nhà nước mà theo đó bắt buộc mọi người phải phục tùng ý chí của nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước, bằng bộ máy nhà nước do mình tổ chức ra nhằm đảm bảo an ninh, duy trì trật tự xã hội. Khái niệm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân là nguồn gốc của mọi quyền lực, trong đó có quyền lực nhà nước. Ngay từ cuối thế kỉ XVII, John Locke, nhà tư tưởng vĩ đại người Anh, đã nói tới nguyên nhân ra đời xã hội chính trị và chính quyền dân sự là do người dân tự nguyện từ bỏ tự do của mình để được sống trong một xã hội an toàn hơn cho chính bản thân mình; mục đích của chính quyền dân sự là phục vụ người dân; chính quyền dân sự không thể đưa ra các quyết định quan trọng mà không được chính người dân hoặc cơ quan đại diện của họ phê chuẩn. Giữa thế kỉ XVIII, J.Rousseau, nhà tư tưởng người Pháp, đã bàn chi tiết về cách thức thành lập chính quyền trên cơ sở sự đồng ý của người dân mà ông gọi là “Khế ước xã hội” hay ý chí chung của toàn xã hội; chủ quyền tối cao phải là sự thực hiện ý chí chung này và không thể tự nó từ bỏ ý chí chung đó được.
Việc chia quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp chỉ là biểu hiện bên ngoài, trong 1. Viện Thông tin Khoa học Xã hội: Thuyết tam quyền phân lập và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại (tái bản có bổ sung), Hà Nội, 1992, tr. Nguyễn Đăng Quang: “Tăng cường quyền lực của nhân dân lao động - nội dung cốt lõi trong việc bảo đảm quyền con người”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7/2007, 2007, tr.Lênin: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 24 một giai đoạn nhất định của hoạt động của nhà nước.
Thực chất, các bộ phận này đều phụ thuộc vào và nhằm thực hiện quyền lực tối cao của nhân dân. Chủ quyền nhân dân là nền tảng cho sự ra đời của nhà nước, vì thế cao hơn, chi phối và là cơ sở bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước. Đến cuối thế kỉ XIX, John Stuart Mill, triết gia và nhà kinh tế chính trị học người Anh ca ngợi rằng hình thức ưu việt nhất của chính quyền là chính quyền đại diện. Ở góc độ thực tiễn đời sống chính trị, Abraham Lincoln, Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kì thứ 16 (1861 - 1865), trong bài phát biểu nổi tiếng của mình tại Gettysburg ngày 19 tháng 11 năm 1863 sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã sử dụng cụm từ nổi tiếng: “nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” (government of the people, by the people, for the people) như một bộ máy nhà nước lý tưởng mà người dân Mỹ phải xây dựng sau cuộc nội chiến.
Bên cạnh đó, Hiến pháp, đạo luật cơ bản và là biểu tượng của chủ quyền tối cao của nhiều quốc gia cũng khẳng định trong lời mở đầu cũng như thể hiện trong các điều khoản rằng nhân dân là người chủ của quyền lực nhà nước và là người làm ra hiến pháp như: Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787, Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949, Hiến pháp Nhật Bản năm 1946, Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1958,. Như vậy, nguyên tắc “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” là một thành quả tư tưởng chính trị - pháp lý của nhân loại mà Việt Nam đã tiếp thu và áp dụng, trên cơ sở phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam từ rất sớm trong lịch sử lập hiến của mình. Trong điều kiện dân chủ và pháp quyền, nhân dân là người tổ chức nên nhà nước của mình. Do đó, nhà nước suy cho cùng chỉ là một thể chế của cộng đồng xã hội.
Như vậy, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là quyền lực được bắt nguồn từ nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Quyền lực đó không phải của bản thân thể chế nhà nước mà thuộc về cộng đồng xã hội, quốc gia dân tộc đã tổ chức nên nhà nước ấy. Khi quyền lực nhà nước là của nhân dân thì bộ máy nhà nước cũng là của nhân dân, do nhân dân bầu ra và phục vụ lợi ích của nhân dân.
Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước ấy cũng phải thực sự thể hiện được mối quan hệ phục vụ đối với nhân dân. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trong Hiến pháp năm 1946 – một số nội dung cơ bản Việc xác lập quyền lực nhà nước của nhân dân trong Hiến pháp năm 1946 ở Việt Nam từ những năm đầu khai sinh nhà nước Việt Nam Dân 25 chủ Cộng hòa đến nay là một quá trình nhất quán. Quá trình đó đã kế thừa những giá trị phổ quát của thế giới trong xây dựng, tổ chức một nhà nước dân chủ của dân, do dân, vì dân, đồng thời phù hợp với những đặc điểm riêng của Việt Nam. Nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến “Nhân dân” là một khái niệm bao gồm toàn thể công dân Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, dân tộc, giai cấp, tín ngưỡng, tôn giáo,.
Trong khái niệm “Nhân dân” thì mọi người bình đẳng với nhau mà không có bất kì sự phân biệt nào. Khái niệm “Nhân dân” cũng bao hàm sự bình đẳng giữa các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.