lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và một số phụ lục kèm theo. 6 C ƢƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ BÍ MẬT KINH DOANH TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 1. Bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động: Ngày nay, nhìn một cách tổng quan, quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng không còn là những khái niệm quá mới mẻ. Chính nhờ những ưu thế nhất định mà bí mật kinh doanh đem lại cho chủ sở hữu những lợi thế thương mại đáng kể.
Theo đó, việc nghiên cứu về sự tác động của bí mật kinh doanh trong phạm vi doanh nghiệp cũng như trong tổng thể nền kinh tế đang ngày càng được chú trọng phát triển, đặc biệt là trong Q LĐ. Ở phạm vi tiểu mục này, tác giả sẽ đi vào phân tích những khía cạnh cơ bản có liên quan để từ đó mở ra một góc nhìn toàn diện và chính xác nhất về bí mật kinh doanh trong Q LĐ. Khái niệm bí mật kinh doanh trong quan hệ lao động: Đối với khái niệm bí mật kinh doanh trong Q LĐ, pháp luật lao động không có quy định cụ thể nên việc xác định nội hàm của khái niệm này phải dựa vào các quy định của pháp luật có liên quan. Thuật ngữ “bí mật kinh doanh” hiện được quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”.
Đây được xem là một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để một thông tin được xem là bí mật kinh doanh và được bảo hộ thì thông tin đó phải đáp ứng ba điều kiện sau: (i) không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; (ii) khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó và (iii) được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được1. Thêm vào đó, căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 6 Luật SHTT năm 2005, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó. Theo đó, bí mật kinh doanh mặc nhiên được bảo hộ mà không cần phải đăng ký, chỉ cần đáp ứng được hai điều kiện: (i) có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và (ii) thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó.
1 Điều 84 Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; 7 Liên quan đến phạm trù này, pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia khác cũng đưa ra một số khái niệm tương đồng nhưng có phạm trù rộng hơn: - Bí mật thương mại: Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), bí mật thương mại là “bất kỳ thông tin bí mật thương mại nào cung cấp cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh”, nó bao gồm bí mật sản xuất, bí mật công nghiệp hoặc bí mật kinh doanh2. Theo khái niệm này thì bí mật kinh doanh chỉ là một phần của bí mật thương mại. Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng quy định khá chi tiết về vấn đề này. Theo pháp luật Hoa Kỳ, bí mật thương mại là “thông tin, bao gồm công thức, mẫu, biên soạn, chương trình, thiết bị, phương pháp, kỹ thuật hoặc quy trình, mà: (i) có giá trị kinh tế độc lập, thực tế hoặc tiềm năng, chưa được biết đến rộng rãi và chưa được xác định bằng các phương tiện phù hợp bởi những người khác có thể có được giá trị kinh tế từ việc tiết lộ hoặc sử dụng; và (ii) chịu những nỗ lực hợp lý để duy trì bí mật”3.
Ngoài ra, Luật Bảo vệ Bí mật thương mại Hoa Kỳ cũng đưa ra định nghĩa bí mật thương mại như sau: “tất cả các hình thức và các loại thông tin tài chính thương mại, khoa học, kỹ thuật, kinh tế bao gồm các mô hình, đồ án, tác phẩm, bưu phẩm, biên soạn, thiết bị chương trình, công thức, thiết kế nguyên mẫu, phương pháp, kỹ thuật, quy trình, chương trình hoặc mật mã dù hữu hình hay vô hình được lưu trữ, soạn thảo hay ghi lại cụ thể dưới dạng điện tử, đồ họa, hình ảnh hoặc bằng văn bản; (A) chủ sở hữu của nó đã có biện pháp hợp lý để giữ bí mật thông tin đó; và (B) thông tin có được giá trị kinh tế độc lập, thực tế hoặc tiềm năng, không được công bố rộng rãi và không thể dễ dàng xác định bằng các phương tiện phù hợp”4. Theo tác giả, quy định về bí mật thương mại theo pháp luật Hoa Kỳ là một quy định tiến bộ và khá chi tiết mặc dù nó chưa thể bao hàm tất cả các lĩnh vực thuộc về bí mật thương mại cũng như tất cả các phương diện nhưng việc quy định như vậy rất rõ ràng và có thể áp dụng ngay vào thực tiễn. Không chỉ trong pháp luật Hoa Kỳ, pháp luật Liên Bang Nga cũng đã giải thích bí mật thương mại là “thông tin khoa học kỹ thuật, công nghệ, sản xuất, tài chính kinh tế hoặc những thông tin khác bao gồm cả bí quyết sản xuất, đó là kết quả của 2 Phạm Thị Nhung (2017), Vấn đề bảo vệ bí mật kinh doanh trong QHLĐ tại một số quốc gia – kinh nghiệm đối với Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân, Trường Đại học Luật TP. 5; 3 Mục 1(4) Uniform Trade Secrets Act – UTSA (1985); 4 Mục 2(b)(1) Defend Trade Secrets Act – DTSA (2016); 8 hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, những thông tin về phương pháp trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, có giá trị thương mại, được chủ sở hữu bảo mật ngăn không cho bên thứ ba biết đến”5.
Ngoài ra, thuật ngữ bí mật thương mại còn được sử dụng phổ biến ở Cộng hòa Liên bang Đức. Tuy nhiên, hiện nay ở Cộng hòa Liên bang Đức chưa có văn bản luật nào đưa ra định nghĩa về bí mật thương mại. Để hiểu thế nào là bí mật thương mại, ta phải dựa vào định nghĩa trong các điều ước quốc tế hay các phán quyết của Tòa án. Chính vì lẽ đó mà ở Đức tồn tại rất nhiều định nghĩa khác nhau về bí mật thương mại.
Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức định nghĩa bí mật thương mại là tất cả các sự kiện, hoàn cảnh, chương trình có liên quan đến một công ty, đó không phải là những hiểu biết thông thường và chỉ có một số chủ thể nhất định biết được. Về cơ bản, bí mật thương mại bao gồm bản vẽ thi công, quy trình sản xuất, tài liệu tính toán, hợp đồng, danh sách khách hàng6. Cụm từ “hiểu biết thông thường” được Tòa án giải thích theo nghĩa rộng. Một thông tin được coi là hiểu biết thông thường nếu nó được biết đến một cách dễ dàng mà không cần đến bất kỳ nỗ lực đặc biệt nào.
Một bí mật thương mại sẽ không được bảo hộ nữa nếu nó không còn tính bí mật. Thêm vào đó, Tòa án Lao động vùng Rhineland – Palatinate cũng định nghĩa bí mật thương mại là những yếu tố kỹ thuật theo nghĩa rộng nhất, bao gồm: doanh thu, lợi nhuận và thiệt hại, sổ sách nội bộ, danh sách khách hàng, nguồn cung cấp, điều kiện, chiến lược thị trường, tài liệu tín dụng, tài liệu tính toán, sự ứng dụng sáng chế, dự án nghiên cứu và phát triển khác có thể quyết định đến tình hình tài chính của doanh nghiệp7. Thông qua hai định nghĩa trên, có thể nhận thấy rằng định nghĩa bí mật thương mại ở Cộng hòa Liên bang Đức được hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm tất cả các thông tin trong lĩnh vực kinh doanh và trong lĩnh vực khoa học – kỹ thuật. - Thông tin bí mật: Thuật ngữ này được quy định trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã đưa ra khái niệm về thuật ngữ này tại khoản 1 Điều 2 Chương như sau: “Thông tin bí mật 5 Khoản 2 Điều 3 Luật Bí mật thương mại của Liên Bang Nga năm 2004; 6 Phạm Thị Nhung, tlđd (2), tr. 26; 7 Phạm Thị Nhung, tlđd (2) tr. 26; 9 bao gồm bí mật thương mại, thông tin đặc quyền và thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng phải bị tiết lộ công khai không hạn chế theo pháp luật quốc gia của bên liên quan”. Theo đó, thông tin bí mật là thuật ngữ có nội hàm rộng, bao hàm cả thuật ngữ bí mật thương mại, dùng để chỉ tất cả các thông tin chưa bị công khai, tiết lộ.
Từ những định nghĩa trên, có thể thấy, dù có nhiều tên gọi khác nhau nhưng nội hàm của các tên gọi này đều dùng để chỉ những thông tin bí mật được sử dụng trong kinh doanh. Khi so sánh các định nghĩa trên với định nghĩa bí mật kinh doanh trong pháp luật Việt Nam theo quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, tác giả nhận thấy định nghĩa bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam còn khá chung chung, chưa rõ ràng. Tính đến thời điểm hiện tại, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật SHTT năm 2005 cũng không có giải thích gì thêm về khái niệm trên. Điều này càng làm tăng thêm tính chất mơ hồ, không rõ ràng của một khái niệm quan trọng.
Song đó, các điều kiện để một thông tin được xem là bí mật kinh doanh theo quy định của các nước lại có nhiều điểm tương đồng, cụ thể là: (i) không được nhiều người biết đến; (ii) hữu ích cho hoạt động kinh doanh và (iii) được giữ bí mật. Tuy vậy, khác với pháp luật Việt Nam, khi nêu ra các điều kiện trên thì pháp luật của các nước này đã giải thích và liệt kê phạm vi thông tin bí mật theo nghĩa rộng, bao gồm cả thông tin trong lĩnh vực kinh doanh và khoa học, kỹ thuật8. Theo như những phân tích trên, tác giả chỉ mới làm rõ được định nghĩa bí mật kinh doanh theo Luật SHTT mà chưa đề cập đến định nghĩa bí mật kinh doanh trong Q LĐ.