CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG Tiền lương trong doanh nghiệp Khái niệm tiền lương Dưới góc độ pháp luật, cụ thể là tại Điều 90, Bộ luật Lao động 2012 “Tiền lương được xem là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận, tiền lương được trả căn cứ vào năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương trả cho người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định” Ngoài ra, trong kế toán thì “Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm xã hội mà người lao động được dùng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động.“Tiền lương là bộ phận cấu thành giá trị sản phẩm do lao động tạo ra. Nó được coi là yếu tố đầu vào với chức năng là chi phí lao động sống, cũng có thể coi là cấu thành của thu nhập doanh nghiệp.
Phan Đình Ngân và THS. Hồ Phan Minh Đức 2009, Giáo trình Kế toán tài chính 1). Bản chất của tiền lương Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương được hiểu là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để bù đắp hao phí sức lao động trên cơ sở thoả thuận giữa hai bên. Như vậy, với sự hoạt động của cơ chế thị trường thì sức lao động trở thành hàng hóa - một loại hàng hóa đặc biệt.
Và dĩ nhiên, hàng hóa được thanh toán bằng tiền và ở đây giá cả sức lao động chính là tiền lương. Từ sự phân tích về tiền lương ở đây, ta có thể rút ra được 3 bản chất cơ bản của tiền lương như sau: - Tiền lương là giá cả sức lao động, được biểu hiện bằng tiền cho giá trị lao động mà người sử dụng lao động trả cho người lao động; - Mức lương trả cho NLĐ phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường lao động, nhưng không được trả thấp hơn mức lương tối thiểu do luật pháp quy định; - Tiền lương được xác định thông qua sự thỏa thuận giữa các bên, là khoản phải trả cho người lao động về công sức lao động họ đã bỏ ra trong quá trình SXKD. SVTH: Phan Thị Trà My -5- van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thị Nhật Linh Ý nghĩa của tiền lương Đối với nền kinh tế nước nhà, tiền lương là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng mà không có một quốc gia nào lại không quan tâm tới, là một công cụ quản lý ở các đơn vị sản xuất kinh doanh và là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển.
Trong phạm vi doanh nghiệp, tiền lương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người lao động, tiền lương là nguồn thu nhập chính và thường xuyên của người lao động để đảm bảo cuộc sống tối thiểu của họ, là yếu tổ để đảm bảo tái sản xuất sức lao động, kích thích lao động làm việc hiệu quả đồng thời tiền lương phù hợp với đóng góp của người lao động sẽ giúp đem lại sự tin tưởng vào doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tiền lương mà người lao động kiếm được ảnh hưởng đến địa vị của người lao động trong gia đình, bạn bè cũng như giá trị của họ đối với tổ chức và xã hội. Vì vậy tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển lực lượng lao động. Ngoài ra, về mặt lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, tiền lương còn là một trong những chi phí của doanh nghiệp và mục tiêu của doanh nghiệp là tối thiểu hóa chi phí, tối đa lợi nhuận nhưng vẫn quan tâm đến quyền lợi của người lao động.
Vì vậy việc hạch toán tiền lương hợp lý và chính xác sẽ giúp các nhà quản lý chi phí một cách hiệu quả nhất trong quá trình kinh doanh. Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp Để tiền lương thực sự trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng cho mỗi doanh nghiệp, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải lựa chọn phù hợp giữa hình thức trả lương với những đặc điểm riêng của doanh nghiệp, với giá trị sức lao động của người lao động và đồng thời giải quyết hài hoà lợi ích của người lao động và của doanh nghiệp. Có 2 hình thức trả lương là hình thức trả lương theo thời gian và hình thức trả lương theo sản phẩm, cụ thể như sau: 1. Hình thức trả lương theo thời gian Là việc trả lương theo thời gian lao động thực tế và thang bậc lương của người lao động.
Hình thức này chỉ áp dụng chủ yếu cho người lao động gián tiếp. Đó là những lao động thuộc bộ phận văn phòng, bộ phận quản lý và các hoạt động không có tính chất sản xuất. SVTH: Phan Thị Trà My -6- van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thị Nhật Linh a.
Lương tháng: Tiền lương tháng là tiền lương đã được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương, được tính và trả cố định hàng tháng trên cơ sở HĐLĐ đã ký. Tiền lương tháng được xác định như sau: Tiền lương Mức lương tháng x Số ngày thực + Tiền thưởng tháng = Số ngày làm việc theo quy định tế làm việc (nếu có) Trong đó: + Mức lương tháng = Mức lương tối thiểu x (Hệ số lương + Hệ số phụ cấp hưởng) + Số ngày làm việc theo quy định = (Số ngày trong tháng – Số ngày nghỉ), không được quá 26 ngày. Lương tuần: Căn cứ theo tiền lương tháng và được xác định như sau: Tiền lương tháng Tiền lương tuần = x 12 tháng 52 tuần c. Lương ngày: Lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp phải trả, tính trả lương cho CBCNV trong những ngày hội họp, học tập hoặc trả lương theo hợp đồng.
Tiền lương tháng Tiền lương ngày = Số ngày làm việc trong tháng (không quá 26 ngày) d. Lương giờ: Là tiền lương trả cho 1 giờ làm việc, thường được áp dụng để trả lương cho người lao động trực tiếp không hưởng lương theo sản phẩm hoặc làm cơ sở để tính đơn giá tiền lương trả theo sản phẩm. Mức lương ngày Tiền lương giờ = Số giờ làm việc theo quy định (8h) e. Lương làm thêm giờ: Áp dụng trong trường hợp trả lương CBCNV trong thời gian hội họp, làm việc hoặc làm nhiệm vụ khác.
Tiền lương làm = Tiền lương giờ x Mức lương giờ x Số giờ làm thêm thêm giờ thực trả Trong đó: Mức lương giờ được xác định như sau: + Mức 150% áp dụng đối với làm thêm giờ trong ngày làm việc bình thường; + Mức 200% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần; SVTH: Phan Thị Trà My -7- van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thị Nhật Linh + Mức 300% áp dụng đối với giờ làm thêm vào các ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định. + Nếu NLĐ làm việc vào ban đêm, sẽ được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc theo công việc của ngày làm việc bình thường. + Nếu NLĐ làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định, họ còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.
Hình thức trả lương này có ưu điểm là cách tính đơn giản, dễ hiểu, phản ánh được trình độ kỹ thuật và điều kiện làm việc của từng lao động. Tuy nhiên, tiền lương của NLĐ lại chưa thực sự gắn với kết quả lao động nên chưa kích thích họ tận dụng thời gian lao động, nâng cao NSLĐ và chất lượng sản phẩm. Hình thức trả lương theo sản phẩm Là hình thức tính tiền lương căn cứ trực tiếp vào kết quả lao động sản xuất của mỗi người (căn cứ vào khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành, sản phẩm bảo đảm đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật, chất lượng quy định). Hình thức trả lương theo sản phẩm được áp dụng rộng rãi ở nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, chế tạo sản phẩm.
Nó kích thích NLĐ quan tâm đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp (không hạn chế) Đây là hình thức được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để tính lương phải trả cho lao động trực tiếp sản xuất, tiền lương sẽ được được tính cho từng người lao động hay tập thể người lao động thuộc bộ phận trực tiếp sản xuất. Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp được xác định như sau: Tiền lương được lĩnh = Số lượng (Khối lượng) sản * Đơn giá tiền trong tháng phẩm, công việc hoàn thành lương SP Trong đó: Đơn giá tiền lương sản phẩm là tiền lương trả cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành. Đơn giá này không thay đổi theo tỷ lệ hoàn thành định mức lao động nên còn gọi là hình thức tiền lương này là hình thức tiền lương sản phẩm trực tiếp không hạn chế.
Ngoài ra, trong đơn giá còn tính thêm tỷ lệ khuyến khích trả lương sản phẩm hoặc phụ cấp khu vực (nếu có). SVTH: Phan Thị Trà My -8- van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Thị Nhật Linh Cách tính lương này có tác dụng giúp cho những người phục vụ sản xuất quan tâm đến kết quả lao động sản xuất vì nó gắn liền với lợi ích kinh tế của họ. Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp Thường được áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp ở các bộ phận phục vụ sản xuất như lao động vận chuyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị.
không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất của lao động trực tiếp, do đó tiền lương của bộ phận gián tiếp sẽ phụ thuộc vào kết quả lao động của bộ phận trực tiếp sản xuất. Tiền lương nhận được trong = Số lượng sản phẩm x Đơn giá lương của bộ tháng của bộ phận gián tiếp của bộ phận trực tiếp phận gián tiếp hoặc Tiền lương nhận được trong = Mức lương cấp bậc x Tỷ lệ hoàn thành định tháng của BP gián tiếp của BP trực tiếp mức sản lượng BQ của BP trực tiếp (%) Trong đó: Mức lương cấp bậc của BP trực tiếp Đơn giá lương của BP gián tiếp = Định mức sản lượng của BP trực tiếp Cách tính lương này có tác dụng giúp cho những người thuộc bộ phận gián tiếp quan tâm đến kết quả lao động sản xuất hơn vì nó gắn liền với lợi ích kinh tế của họ, qua đó gián tiếp nâng cao năng suất lao động của bộ phận trực tiếp.