Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Vấn đề sử dụng lao động chưa thành niên (LĐCTN) trong quan hệ lao động (QHLĐ) là chủ đề nhận được sự quan tâm sâu sắc từ xã hội và giới lập pháp. Người chưa thành niên là nhóm chủ thể chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, trí tuệ và tâm lý, dẫn đến sự hạn chế trong nhận thức về quyền, nghĩa vụ khi tham gia các quan hệ pháp luật. Do đó, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm lao động này là nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo nguồn nhân lực tương lai cho đất nước. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, người chưa thành niên vẫn là một lực lượng lao động thực tế có đóng góp nhất định vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và kinh tế gia đình.
Việt Nam đã sớm nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế thông qua việc phê chuẩn Công ước số 182 (năm 1999) về việc cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và Công ước số 138 (năm 1973) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về độ tuổi lao động tối thiểu. Dù tỷ lệ LĐCTN tham gia làm việc tại Việt Nam đã giảm từ 15,5% năm 2012 xuống còn 9,1% năm 2018 (thấp hơn khoảng 2% so với mức trung bình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương), số liệu thống kê năm 2018 vẫn ghi nhận hơn 1.031.944 LĐCTN tham gia vào QHLĐ, trong đó có tới 519.805 em phải làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (chiếm hơn 50,3%). Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải rà soát, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành sau khi Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 có hiệu lực nhằm tìm ra những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về LĐCTN trong QHLĐ; phân tích tính hợp pháp, hợp lý, ưu điểm và hạn chế của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành; từ đó đề xuất các định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của LĐCTN.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về LĐCTN và pháp luật điều chỉnh LĐCTN trên thế giới và tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật về LĐCTN, chỉ ra các ưu điểm và hạn chế còn tồn tại.
- Đưa ra các định hướng, kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với LĐCTN.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam về LĐCTN (việc làm, học nghề, hợp đồng lao động, điều kiện lao động, tiền lương, kỷ luật, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp) và thực tiễn áp dụng các quy định này.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tập trung chủ yếu tại Việt Nam, có liên hệ, so sánh với các chuẩn mực quốc tế của ILO, Liên Hợp Quốc và quy định pháp luật của một số quốc gia (Đức, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc, Serbia).
- Về thời gian và văn bản: Tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành (BLLĐ năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Nghị định và Thông tư chuyên ngành ban hành giai đoạn 2020–2022); đồng thời đối chiếu với BLLĐ năm 2012 và số liệu thống kê giai đoạn 2012–2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, kết hợp với việc quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, người chưa thành niên.
Khung pháp lý và chuẩn mực tác giả sử dụng:
- Văn bản quốc tế: Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (UNCRC); Công ước ILO số 138 (1973) về độ tuổi tối thiểu; Công ước ILO số 182 (1999) về các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; Công ước ILO số 124 (1965) về khám sức khỏe cho người chưa thành niên làm việc dưới lòng đất; Công ước ILO số 155 (1981) về an toàn, vệ sinh lao động.
- Hệ thống pháp luật quốc gia: Hiến pháp năm 2013; Luật Trẻ em năm 2016; BLLĐ năm 2019 (so sánh với BLLĐ năm 2012); Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015; Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015; Luật An toàn, vệ sinh lao động (LATVSLĐ) năm 2015; Luật Bảo hiểm xã hội (LBHXH) năm 2014; Luật Thanh tra; Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Văn bản dưới luật: Nghị định số 145/2020/NĐ-CP; Nghị định số 12/2022/NĐ-CP; Nghị định số 38/2022/NĐ-CP; Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH; Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH.
Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng để phân tích từng điều khoản luật, cơ chế pháp lý và tổng hợp thành các luận điểm khoa học.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của BLLĐ năm 2019 với BLLĐ năm 2012; so sánh quy định của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế của ILO và pháp luật của các quốc gia khác.
- Phương pháp thống kê, thu thập và xử lý số liệu: Khai thác và xử lý các số liệu định lượng từ các cuộc điều tra xã hội học và báo cáo chuyên đề chính thức.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo khảo sát cấp quốc gia và quốc tế, bao gồm: "Báo cáo Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2018" và "Báo cáo Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2012" do Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) phối hợp với Tổng cục Thống kê và ILO thực hiện; Báo cáo "Working time and Work-Life balance around the world" của ILO; Tài liệu tập huấn về phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em của Bộ LĐTBXH.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về lao động chưa thành niên và pháp luật về lao động chưa thành niên
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm pháp lý và các nguyên tắc điều chỉnh đối với lao động chưa thành niên:
- Khái niệm: Theo chuẩn mực quốc tế (UNCRC, ILO 182, Quy ước của Liên Hợp Quốc ngày 14/12/1990), người chưa thành niên và trẻ em đều được xác định là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, tại Việt Nam có sự phân tách: Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi; Khoản 1 Điều 143 BLLĐ năm 2019 quy định LĐCTN là người lao động chưa đủ 18 tuổi (chia thành 3 nhóm: dưới 13 tuổi, từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi, từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi). Do đó, thuật ngữ "lao động chưa thành niên" tại Việt Nam bao hàm cả "lao động trẻ em".
- Đặc điểm của LĐCTN: (1) Hạn chế về thể chất và tâm sinh lý (đang trong giai đoạn phát triển sinh học, dễ tổn thương về xương khớp, hóa chất, tâm lý chưa ổn định); (2) Năng lực hành vi dân sự bị hạn chế một phần khi xác lập QHLĐ; (3) Được pháp luật ưu tiên bảo vệ đặc thù; (4) Hạn chế về trình độ chuyên môn kỹ thuật và kinh nghiệm thực tế.
- Ý nghĩa của việc sử dụng LĐCTN: Tạo thu nhập hợp pháp hỗ trợ gia đình, thỏa mãn đam mê năng khiếu nghệ thuật/thể thao; giúp người sử dụng lao động (NSDLĐ) duy trì và truyền nghề truyền thống, tối ưu chi phí; đồng thời hỗ trợ Nhà nước khai thác hợp lý nguồn lực và hội nhập quốc tế.
- Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật:
- Đảm bảo quyền được tham gia lao động của người LĐCTN.
- Đảm bảo quyền và lợi ích của LĐCTN phù hợp với các đặc điểm riêng biệt của họ.
- Đảm bảo sự hài hòa trong mối quan hệ giữa NSDLĐ và người LĐCTN.
- Nội dung pháp luật: Phân tích khung quy định quốc tế theo Công ước 138 ILO về phân loại 3 nhóm công việc (công việc nguy hại, công việc nhẹ nhàng, công việc thông thường) và đối chiếu với pháp luật của Hàn Quốc, Trung Quốc, Đức, Pháp, Serbia về việc làm, học nghề, hợp đồng lao động, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, tiền lương, kỷ luật và giải quyết tranh chấp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về lao động chưa thành niên
Chương 2 phân tích chi tiết toàn diện các chế định pháp luật thực định của Việt Nam điều chỉnh LĐCTN:
1. Việc làm và đào tạo nghề:
- Quy định theo độ tuổi:
- Dưới 13 tuổi: Chỉ được làm các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao không gây tổn hại đến thể lực, trí lực, nhân cách theo Khoản 3 Điều 145 BLLĐ năm 2019 và phải có sự đồng ý của Sở LĐTBXH.
- Từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi: Chỉ được làm 12 công việc nhẹ theo Điều 8 và Phụ lục II Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH (biểu diễn nghệ thuật, vận động viên, lập trình phần mềm, nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, làm cỏ/thu hoạch vườn rau sạch, đơm nút/cắt chỉ dệt...).
- Từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: Được làm hầu hết các công việc trừ danh mục cấm tại Điều 147 BLLĐ năm 2019, bao gồm 69 công việc bị cấm (Phụ lục III) và 6 nơi làm việc bị cấm (Phụ lục IV Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH).
- Đào tạo nghề: Điều 61 BLLĐ năm 2019 quy định độ tuổi học nghề tối thiểu là từ đủ 14 tuổi. Tác giả chỉ ra lỗ hổng pháp lý: Luật cấm LĐCTN làm việc nặng nhọc, độc hại nhưng chưa có quy định rõ ràng về việc người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi có được phép "học nghề, tập nghề" trong các ngành nghề độc hại đó hay không.
2. Hợp đồng lao động (HĐLĐ):
- Lao động dưới 15 tuổi: Bắt buộc giao kết bằng văn bản giữa NSDLĐ với người dưới 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật (Điểm a Khoản 1 Điều 145 BLLĐ năm 2019). NSDLĐ phải có Phiếu lý lịch tư pháp cấp không quá 6 tháng (không có án tích xâm hại trẻ em) và Bản cam kết theo mẫu (Khoản 1 Điều 4 Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH). BLLĐ năm 2019 đã bãi bỏ việc cho phép giao kết bằng lời nói đối với công việc dưới 3 tháng của BLLĐ năm 2012.
- Lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: Tự mình giao kết HĐLĐ nhưng phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật (Điểm b Khoản 4 Điều 18 BLLĐ năm 2019 và Khoản 4 Điều 21 BLDS năm 2015). Khoản 2 Điều 14 BLLĐ năm 2019 cho phép giao kết HĐLĐ bằng lời nói đối với công việc có thời hạn dưới 1 tháng; tác giả phân tích đây là kẽ hở dễ bị NSDLĐ lợi dụng tuyển dụng ngắn hạn lặp lại để né tránh nghĩa vụ pháp lý.
3. Điều kiện lao động và sử dụng lao động:
- An toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ): Khám sức khỏe định kỳ ít nhất 06 tháng/lần cho LĐCTN (Điểm c Khoản 1 Điều 145 BLLĐ năm 2019 và Khoản 1 Điều 21 LATVSLĐ năm 2015); lập sổ theo dõi riêng (Khoản 3 Điều 144 BLLĐ năm 2019). Mức phạt hành chính đối với hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ là 1.000.000đ – 3.000.000đ/người lao động, tối đa 75.000.000đ (Khoản 3 Điều 32 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).
- Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi:
- Dưới 15 tuổi: Tối đa 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần; cấm làm thêm giờ và làm ban đêm.
- Từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: Tối đa 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần; được phép làm thêm giờ (không quá 04 giờ/ngày, 20 giờ/tuần theo Điều 107 BLLĐ năm 2019) và làm ban đêm trong một số ngành nghề nhất định (Phụ lục V Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH).
- Bất cập: Thời giờ làm việc 40 giờ/tuần của nhóm 15–18 tuổi tại Việt Nam còn cao hơn mức trung bình của lao động trưởng thành tại Hoa Kỳ (35,4–37,5 giờ/tuần) hay Đức (31,25 giờ/tuần) theo báo cáo của ILO. Ngoài ra, Điều 109 BLLĐ năm 2019 chỉ quy định nghỉ giữa giờ cho ca làm việc từ 6 giờ trở lên, vô hình trung bỏ sót chế độ nghỉ giữa giờ cho lao động dưới 15 tuổi (chỉ làm 4 giờ/ngày).
- Tiền lương và Bảo hiểm xã hội: Áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định 38/2022/NĐ-CP (tháng và giờ). HĐLĐ từ đủ 01 tháng trở lên thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo Luật BHXH năm 2014 và Điều 168 BLLĐ năm 2019.
| Vùng |
Mức lương tối thiểu tháng (VNĐ) |
Mức lương tối thiểu giờ (VNĐ) |
| Vùng 1 |
4.680.000 |
22.500 |
| Vùng 2 |
4.160.000 |
20.000 |
| Vùng 3 |
3.640.000 |
17.500 |
| Vùng 4 |
3.250.000 |
15.600 |
- Kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất: Điều 122 BLLĐ năm 2019 và Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định việc xử lý kỷ luật đối với người dưới 15 tuổi bắt buộc phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất được áp dụng theo Điều 129, 130 BLLĐ năm 2019 kết hợp Điều 586 BLDS năm 2015 về trách nhiệm của người giám hộ.
- Thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp: Xử phạt vi phạm hành chính đối với việc sử dụng LĐCTN sai quy định từ 50.000.000đ đến 75.000.000đ theo Khoản 3 Điều 29 Nghị định 12/2022/NĐ-CP; truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 296 BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) về tội vi phạm quy định về sử dụng lao động dưới 16 tuổi. Giải quyết tranh chấp tại Tòa án theo Điều 69 BLTTDS năm 2015 (người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi được tự mình tham gia tố tụng lao động; người dưới 15 tuổi phải thông qua đại diện hợp pháp).
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên ở Việt Nam và một số kiến nghị
Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng từ cuộc điều tra thực tế, chỉ ra mặt tích cực, hạn chế và đề xuất các giải pháp:
- Thực trạng qua số liệu Điều tra quốc gia năm 2018:
- Cả nước có 19.254.271 người trong độ tuổi 5–17 tuổi, trong đó có 1.752.066 trẻ em tham gia hoạt động kinh tế (chiếm 6,1%).
- Hơn 58,8% trẻ em tham gia kinh tế là lao động trẻ em (gần 59% là trẻ em trai, trên 41% là trẻ em gái; 51,3% nằm trong nhóm 15–17 tuổi).
- Phân bố: Hơn 84% phân bố ở khu vực nông thôn; tỷ lệ lao động trẻ em ở nông thôn là 6,6% (cao gấp 2,5 lần so với thành thị là 2,6%).
- Độ tuổi bắt đầu tham gia lao động: Từ 12 tuổi trở lên chiếm 53,4%; đáng chú ý có 10,3% bắt đầu dưới 10 tuổi và 3,5% bắt đầu từ 5 tuổi.
- Cơ cấu ngành nghề: 89 công việc cụ thể được ghi nhận; nông nghiệp chiếm 62,2% (trồng cây hàng năm 18,7%, chăn nuôi 2,9%); dịch vụ chiếm 19,5%; công nghiệp và xây dựng chiếm 18,3%.
- Thời giờ làm việc: 34% lao động trẻ em làm việc từ 40 giờ/tuần trở lên (trong đó nhóm 15–17 tuổi chiếm 58,7%; gần 12% trẻ em dưới 15 tuổi làm việc trên 40 giờ/tuần).
- Nguyên nhân: Làm việc để tạo thu nhập cho gia đình (20,7%), tham gia sản xuất kinh doanh của hộ (27,3%), nguyên nhân khác/không xác định (31,7%).
- Đánh giá thực thi: Việt Nam đã đạt được tiến bộ lớn khi tỷ lệ LĐCTN giảm từ 15,5% (2012) xuống 9,1% (2018), tham gia các sáng kiến quốc tế như Liên minh 8.7 về xóa bỏ lao động trẻ em. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm thời giờ làm việc, thiếu hợp đồng văn bản và khó khăn trong thanh tra khu vực kinh tế phi chính thức/nông thôn vẫn diễn biến phức tạp.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính:
- Hệ thống hóa đầy đủ các căn cứ pháp lý mới nhất điều chỉnh lao động chưa thành niên tại Việt Nam theo tinh thần BLLĐ năm 2019, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn ban hành đến năm 2022.
- Tổng hợp bức tranh toàn cảnh về thực trạng LĐCTN tại Việt Nam thông qua chuỗi số liệu của Báo cáo Điều tra quốc gia năm 2018 (tổng số 1,75 triệu trẻ tham gia kinh tế, 84% tập trung ở nông thôn, 62,2% làm nông nghiệp, 34% làm việc từ 40 giờ/tuần trở lên).
- Phát hiện các khoảng trống và điểm bất cập trong quy định pháp luật thực định: thiếu quy định về đào tạo nghề độc hại cho lứa tuổi 14–18; cho phép HĐLĐ bằng lời nói dưới 1 tháng với người từ 15–18 tuổi; quy định thời giờ làm việc của nhóm 15–18 tuổi tương đương người lớn (8 giờ/ngày, 40 giờ/tuần) và thiếu chế định nghỉ giữa giờ cho lao động làm việc 4 giờ/ngày (dưới 15 tuổi); chế tài xử phạt hành vi vi phạm thời giờ làm việc chưa có tính lũy tiến theo số giờ vi phạm.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Hoàn thiện quy định pháp luật:
- Bổ sung quy định cấm hoặc giới hạn chặt chẽ việc đào tạo nghề, tập nghề đối với các ngành nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cho người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi.
- Sửa đổi Điều 146 BLLĐ năm 2019 theo hướng giảm thời giờ làm việc tiêu chuẩn của người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi (ví dụ: tối đa 6–7 giờ/ngày hoặc 30–35 giờ/tuần) để đảm bảo thời gian học tập và phục hồi sức khỏe; cân nhắc bãi bỏ hoặc siết chặt điều kiện làm thêm giờ và làm việc ban đêm đối với nhóm tuổi này.
- Bổ sung quy định bắt buộc nghỉ giữa giờ (ít nhất 15–20 phút) đối với ca làm việc 4 giờ/ngày của lao động dưới 15 tuổi.
- Quy định bắt buộc mọi HĐLĐ với người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi phải lập bằng văn bản, bãi bỏ hình thức giao kết bằng lời nói đối với hợp đồng dưới 1 tháng.
- Sửa đổi Điểm c Khoản 2 Điều 29 Nghị định 12/2022/NĐ-CP theo hướng quy định khung phạt lũy tiến tương ứng với số giờ làm việc vượt quá quy định.
- Nâng cao hiệu quả thực thi:
- Tăng cường biên chế và thẩm quyền cho thanh tra lao động; nghiên cứu thiết lập bộ phận thanh tra chuyên trách về LĐCTN thay vì mô hình thanh tra lao động hợp nhất hiện nay; tập trung thanh tra khu vực kinh tế tư nhân quy mô nhỏ, làng nghề và nông nghiệp.
- Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật và chính sách hỗ trợ kinh tế cho các hộ gia đình nghèo tại khu vực nông thôn nhằm giải quyết nguyên nhân gốc rễ dẫn đến lao động trẻ em sớm.
Đóng góp của khóa luận:
Khóa luận cập nhật toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mới (BLLĐ 2019, Nghị định 12/2022/NĐ-CP, Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH) thay thế các nghiên cứu trước đây vốn chủ yếu dựa trên nền tảng BLLĐ năm 2012; đồng thời kết hợp đối chiếu các chuẩn mực quốc tế của ILO để đưa ra các kiến nghị lập pháp có luận cứ khoa học rõ ràng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ Báo cáo Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2018 (do Bộ LĐTBXH và ILO công bố) mà chưa triển khai được khảo sát xã hội học thực địa độc lập do giới hạn về nguồn lực và thời gian của một khóa luận đại học. Bên cạnh đó, phần phân tích thực tiễn áp dụng chủ yếu tập trung vào khung lý thuyết quy định và số liệu tổng hợp vĩ mô, chưa đi sâu vào án lệ hay các vụ việc giải quyết tranh chấp cụ thể tại Tòa án.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá tác động kinh tế - xã hội của BLLĐ năm 2019 sau giai đoạn triển khai thực tế 5 năm; nghiên cứu sâu về cơ chế quản lý LĐCTN trong nền kinh tế số (lao động nền tảng, sáng tạo nội dung trực tuyến, thương mại điện tử) và xây dựng mô hình thanh tra chuyên biệt đối với lao động trẻ em tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động và An sinh xã hội, cũng như các nhà nghiên cứu chính sách trẻ em và quyền con người.
Nội dung đặc biệt có giá trị tham khảo bao gồm:
- Bảng hệ thống hóa các điều kiện, tiêu chí độ tuổi và danh mục công việc được phép/bị cấm đối với từng nhóm tuổi LĐCTN theo Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH.
- Phân tích đối sánh kỹ thuật lập pháp giữa BLLĐ năm 2012 và BLLĐ năm 2019 về chế định LĐCTN (hợp đồng, xử phạt hành chính, trình tự xử lý kỷ luật).
- Luận điểm phê phán và cơ sở khoa học về việc điều chỉnh thời giờ làm việc của nhóm lao động 15–18 tuổi dựa trên các nghiên cứu sức khỏe nghề nghiệp và chuẩn mực lao động quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo BLLĐ năm 2019 và văn bản hướng dẫn, người dưới 13 tuổi được làm những công việc gì và cần điều kiện gì?
Người dưới 13 tuổi chỉ được làm các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách (Khoản 3 Điều 145 BLLĐ năm 2019). Khi sử dụng nhóm lao động này, NSDLĐ phải có sự đồng ý của Sở LĐTBXH nơi đặt trụ sở chính hoặc nơi đăng ký thường trú/tạm trú của hộ gia đình; phải ký HĐLĐ bằng văn bản với người dưới 13 tuổi và người đại diện theo pháp luật; phải có Phiếu lý lịch tư pháp (không quá 6 tháng, không có án tích xâm hại trẻ em) và Bản cam kết theo quy định tại Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH.
2. Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi được phép làm những công việc cụ thể nào?
Theo Điều 8 và Phụ lục II Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH, nhóm này chỉ được làm 12 công việc nhẹ: (1) Biểu diễn nghệ thuật; (2) Vận động viên thể thao; (3) Lập trình phần mềm; (4) Các nghề truyền thống; (5) Các nghề thủ công mỹ nghệ; (6) Đan lát, làm đồ gia dụng thủ công từ nguyên liệu tự nhiên; (7) Gói nem, gói kẹo, gói bánh; (8) Làm cỏ vườn rau sạch, thu hoạch rau củ quả sạch theo mùa; (9) Chăn thả gia súc tại nông trại; (10) Phụ gỡ lưới cá, đan lưới cá, phơi khô thủy sản; (11) Cắt chỉ, đơm nút, thùa khuyết, đóng gói sản phẩm dệt thủ công; (12) Các công việc nhẹ nhàng khác theo quy định.
3. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất về thời giờ làm việc của người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi là gì?
BLLĐ năm 2019 quy định thời giờ làm việc tối đa của nhóm từ 15 đến dưới 18 tuổi là 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần, đồng thời cho phép làm thêm giờ (tối đa 4 giờ/ngày, 20 giờ/tuần) và làm việc ban đêm. Tác giả chỉ ra rằng mức 40 giờ/tuần là quá cao đối với lứa tuổi chưa phát triển hoàn thiện thể chất, thậm chí cao hơn số giờ làm việc trung bình của lao động trưởng thành tại Đức (31,25 giờ/tuần) hay Hoa Kỳ (35,4–37,5 giờ/tuần); đồng thời làm việc ban đêm theo cảnh báo của WHO/IARC làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tiêu hóa và ung thư.
4. Mức xử phạt hành chính đối với NSDLĐ vi phạm quy định sử dụng LĐCTN hiện nay là bao nhiêu?
Theo Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP, NSDLĐ có hành vi sử dụng lao động chưa thành niên mà chưa có sự đồng ý của cha mẹ/người giám hộ, hoặc giao kết HĐLĐ không bằng văn bản với người dưới 15 tuổi và người đại diện sẽ bị phạt từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ. Hành vi sử dụng người từ 13 đến dưới 15 tuổi làm công việc ngoài danh mục cho phép, sử dụng người dưới 13 tuổi khi chưa có sự đồng ý của Sở LĐTBXH, hoặc sử dụng người từ 15 đến dưới 18 tuổi làm công việc/nơi làm việc bị cấm sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000đ đến 75.000.000đ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật Việt Nam về lao động chưa thành niên" của tác giả Vũ Hoàng Nguyệt Anh đã phân tích hệ thống và sâu sắc cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật thực định và thực tiễn thi hành các quy định về LĐCTN tại Việt Nam. Nghiên cứu đã làm rõ những bước tiến bộ vượt bậc của BLLĐ năm 2019 trong việc tiệm cận các chuẩn mực quốc tế của ILO và UNCRC, đồng thời chỉ ra các khoảng trống lập pháp về đào tạo nghề độc hại, thời giờ làm việc và hình thức hợp đồng lao động ngắn hạn. Các kiến nghị sửa đổi quy định và giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra do tác giả đề xuất mang tính xác đáng, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế pháp luật lao động và bảo vệ trẻ em tại Việt Nam.