Luận Văn: Thỏa Ước Lao Động Tập Thể Và Thực Tiễn Tại Công Ty TNHH Công Nghiệp Giầy Aurora Việt Nam

Luận văn phân tích thỏa ước lao động tập thể và thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Công nghiệp Giầy Aurora Việt Nam, đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

80
24
5

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Kết cấu của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ

1.1. Khái quát chung về thỏa ước lao động tập thể

1.1.1. Khái niệm thỏa ước lao động tập thể

1.1.2. Lịch sử hình thành thỏa ước lao động tập thể

1.1.2.1. Lịch sử hình thành thỏa ước lao động tập thể trên thế giới
1.1.2.2. Lịch sử hình thành thỏa ước lao động tập thể ở Việt Nam

1.2. Bản chất của Thỏa ước lao động tập thể

1.3. Vai trò của thỏa ước lao động tập thể

1.4. Những quy định pháp luật về thỏa ước lao động tập thể

1.4.1. Những quy định về thỏa ước của tổ chức lao động quốc tế ILO

1.4.2. Quy định về thỏa ước lao động theo pháp luật Việt Nam

1.5. Phạm vi áp dụng

1.6. Phân loại thỏa ước lao động tập thể

1.7. Nguyên tắc ký kết thỏa ước lao động tập thể

1.8. Nội dung của thỏa ước lao động tập thể

1.9. Ký kết thỏa ước lao động tập thể

1.10. Đăng ký thỏa ước lao động tập thể

1.11. Hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể

1.12. TIỂU KẾT CHƯƠNG I

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ TẠI CÔNG TY TNHH CÔNG NGHIỆP GIẦY AURORA VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về công ty TNHH Công Nghiệp Giầy Aurora Việt Nam

2.2. Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về Thỏa ước lao động tập thể tại Công ty

2.2.1. Tổ chức ký kết

2.2.2. Nội dung của thỏa ước lao động tập thể 2021 của công ty TNHH Công nghiệp Giầy Aurora Việt Nam

2.2.3. Các quy định về tiền lương

2.2.4. Các quy định về áp dụng phụ cấp

2.2.5. Các quy định về thưởng

2.2.6. Các khoản phúc lợi khác

2.2.7. Phối hợp giữa doanh nghiệp và công đoàn

2.2.8. Doanh nghiệp trả lương người lao động khi phải nghỉ việc do dịch bệnh Covid-19

2.2.9. Đăng ký Thỏa ước lao động tập thể

2.2.10. Tổ chức thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại công ty

2.2.11. Một số hạn chế, vướng mắc trong quá trình ký kết, thực hiện thỏa ước lao động tại công ty

2.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ

3.1. Một số hạn chế của Pháp luật về thỏa ước lao động tập thể từ thực tiễn áp dụng

3.2. Hạn chế của pháp luật về quy định chủ thể tham gia thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể

3.3. Hạn chế về quy định về trình tự thủ tục thương lượng, ký kết, nội dung thỏa ước lao động tập thể

3.4. Về thực hiện thoả ước lao động tập thể

3.5. Hiệu quả của việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể phụ thuộc vào năng lực thực thi của các cơ quan Nhà nước và các chủ thể có liên quan đến quá trình thực thi pháp luật về thỏa ước lao động tập thể

3.6. Về thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật thoả ước lao động tập thể

3.7. Hạn chế trong quy định về xử lý vi phạm pháp luật thỏa ước lao động tập thể

3.8. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thỏa ước lao động tập thể

3.9. Định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật về thỏa ước lao động tập thể

3.10. Nâng cao vai trò của Công đoàn hoặc tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong việc xây dựng và giám sát việc thực hiện các vấn đề về thỏa ước lao động tập thể

3.11. Kiến nghị về tổ chức thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại công ty TNHH Công Nghiệp Giầy Aurora Việt Nam

KẾT LUẬN KHÓA LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái quát về thỏa ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể là một văn bản pháp lý quan trọng, được ký kết giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động. Nó quy định các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng. Thỏa ước lao động không chỉ là một công cụ pháp lý mà còn là cầu nối giữa quyền lợi của người lao động và nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Theo quy định của pháp luật, nội dung của thỏa ước không được trái với các quy định hiện hành. Điều này đảm bảo rằng quyền lợi của người lao động được bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong doanh nghiệp. Thỏa ước lao động tập thể còn có vai trò quan trọng trong việc duy trì kỷ luật lao động và tạo ra một môi trường làm việc ổn định. Khi thỏa ước được ký kết đúng cách, nó sẽ giúp tăng cường mối quan hệ giữa các bên, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1. Khái niệm và bản chất của thỏa ước lao động tập thể

Khái niệm thỏa ước lao động tập thể được hiểu là một thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện làm việc. Bản chất của thỏa ước này là sự thỏa thuận giữa hai bên nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên. Thỏa ước không chỉ đơn thuần là một văn bản pháp lý mà còn là một công cụ để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Nó tạo ra một cơ chế để người lao động có thể thương lượng và đạt được những điều kiện làm việc tốt hơn. Hơn nữa, thỏa ước còn giúp xây dựng một môi trường làm việc tích cực, nơi mà người lao động cảm thấy được tôn trọng và có tiếng nói trong các quyết định liên quan đến quyền lợi của họ.

II. Thực tiễn áp dụng thỏa ước lao động tập thể tại Công ty TNHH Công Nghiệp Giầy Aurora Việt Nam

Công ty TNHH Công Nghiệp Giầy Aurora Việt Nam là một trong những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nơi mà thỏa ước lao động tập thể đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh mối quan hệ lao động. Thực tiễn cho thấy, việc ký kết và thực hiện thỏa ước tại công ty này đã gặp nhiều khó khăn. Mặc dù công ty đã có những nỗ lực trong việc xây dựng thỏa ước, nhưng nội dung chủ yếu vẫn tập trung vào các vấn đề phúc lợi xã hội, trong khi các vấn đề về lương và phụ cấp chưa được quan tâm đúng mức. Điều này dẫn đến sự không hài lòng trong đội ngũ lao động và tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tranh chấp lao động. Việc thực hiện thỏa ước cũng gặp phải những hạn chế về mặt quy trình và thủ tục, khiến cho quyền lợi của người lao động chưa được đảm bảo một cách đầy đủ.

2.1. Nội dung thỏa ước lao động tập thể 2021

Nội dung của thỏa ước lao động tập thể 2021 tại Công ty TNHH Công Nghiệp Giầy Aurora Việt Nam bao gồm các quy định về tiền lương, phụ cấp, thưởng và các khoản phúc lợi khác. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu mang tính hình thức và chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của người lao động. Việc phối hợp giữa doanh nghiệp và công đoàn trong việc thực hiện thỏa ước cũng chưa đạt hiệu quả cao. Điều này cho thấy cần có sự cải thiện trong quy trình thương lượng và ký kết thỏa ước, nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động được thực thi một cách nghiêm túc và hiệu quả.

III. Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thỏa ước lao động tập thể

Để nâng cao hiệu quả của thỏa ước lao động tập thể, cần có những kiến nghị và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật. Trước hết, cần nâng cao vai trò của công đoàn trong việc đại diện cho người lao động trong quá trình thương lượng và ký kết thỏa ước. Bên cạnh đó, cần có sự điều chỉnh về quy trình và thủ tục thương lượng, ký kết thỏa ước để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Việc tăng cường công tác thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về thỏa ước cũng là một yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp trong việc thực hiện và giám sát thỏa ước lao động tập thể.

3.1. Định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật

Định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật về thỏa ước lao động tập thể cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức của các bên liên quan về tầm quan trọng của thỏa ước. Cần có các chương trình đào tạo và hướng dẫn cụ thể cho các doanh nghiệp và công đoàn về quy trình thương lượng và ký kết thỏa ước. Đồng thời, cần có các biện pháp khuyến khích doanh nghiệp thực hiện thỏa ước một cách nghiêm túc, từ đó tạo ra một môi trường làm việc công bằng và ổn định cho người lao động.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ 1. Khái quát chung về thỏa ước lao động tập thể 1. Khái niệm thỏa ước lao động tập thể Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể. Nội dung của thỏa ước lao động tập thể không được trái với quy định của pháp luật.

Đây được xem là cơ sở pháp lý tạo nên mối quan hệ lao động có tính tập thể. Hơn thế nữa, nó tạo điều kiện để người lao động thông qua sức mạnh của tập thể với người sử dụng lao động để có thể hưởng những lợi ích tốt nhất. Khi thỏa ước lao động được ký kết đúng đắn sẽ tăng cường kỷ luật trong doanh nghiệp. Mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để doanh nghiệp tiến hành ký hợp đồng lao động, đảm bảo quyền lợi của hai bên.

Có rất nhiều cách tiếp cận, dưới nhiều góc độ, tùy theo từng thời kỳ, từng nơi mà thỏa ước lao động tập thể có những tên gọi khác nhau như: Tập thể khế ước, cộng đồng hiệp ước lao động, hợp đồng lao động tập thể, thỏa ước lao động tập thể.Nhưng xét thực chất thỏa ước lao động tập thể là những quy định nội bộ của doanh nghiệp, trong đó bao gồm những thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động. Trước đây, trong pháp luật lao động Việt Nam gọi thỏa ước lao động tập thể là “hợp động tập thể” với nội dung và phạm vi áp dụng chủ yếu trong doanh nghiệp nhà nước. So với hợp đồng lao động cá nhân, thỏa ước lao động tập thể có những điểm khác biệt dễ nhận biết là về chủ thể của hợp đồng. Nếu trong hợp đồng lao động, chủ thể của quan hệ pháp luật một bên là cá nhân người lao động và một bên là người sử dụng lao động; thì trong thỏa ước lao động tập thể, một bên là tập thể những người lao động và bên kia là người sử dụng lao động hoặc đại diện của tập thể những người sử dụng lao động (nếu là thỏa ước ngành).

Hình thức thỏa thuận trong hợp đồng lao động có thể là văn bản hoặc giao kết bằng miệng, còn thỏa ước lao động tập thể nhất thiết phải bằng văn bản. Có những điểm khác biệt này là tính 9 chất, đặc điểm của mối quan hệ trong thỏa ước lao động tập thể. Thực chất, đó là mối quan hệ về lợi ích của hai bên, một bên là tập thể lao động và một bên là chủ doanh nghiệp. Xuất phát từ lợi ích của mỗi bên, trong quá trình lao động đòi hỏi các bên phải cộng tác với nhau, nhân nhượng lẫn nhau và vì lợi ích của cả hai bên, đồng thời cũng vì mục đích phát triển doanh nghiệp, làm lợi cho đất nước.

Do đó, thỏa ước lao động tập thể chính là sự thỏa thuận của hai bên, là nhân tố ổn định quan hệ lao động trong phạm vi một đơn vị kinh tế cơ sở, một ngành và có tác dụng rất quan trọng về kinh tế xã hội. Chính vì những lý do trên, tên gọi "hợp đồng tập thể" đã được sửa lại là "thỏa ước lao động tập thể” để phân biệt cả về tính chất và nội dung với "hợp đồng lao động". Lịch sử hình thành thỏa ước lao động tập thể 1. Lịch sử hình thành thỏa ước lao động tập thể trên thế giới Thỏa ước lao động tập thể được manh nha từ cuối thế kỷ XVIII, trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, được ký kết giữa tập thể lao động và chủ xưởng ở nước Anh.

Đến giữa thế kỷ XIX, công nhân đấu tranh ngày càng gay gắt, nhiều cuộc đình công dưới sự lãnh đạo của công đoàn nổ ra đã buộc các nhà tư bản phải ký kết thỏa ước với công đoàn để tránh thiệt hại tài sản. Đến cuối thế kỷ XIX, việc ký kết thỏa ước lao động tập thể đã lan rộng trong các nước tư bản chủ nghĩa. Thoạt đầu, thỏa ước không có hiệu lực pháp luật về mặt quản lý nhà nước. Cho đến tháng 7-1918, Chính phủ Xô Viết, dưới sự lãnh đạo của Lê-Nin đã ban hành “Điều lệ về trình tự phê chuẩn thỏa ước lao động tập thể về xác định mức lương và điều kiện lao động”.

Sau đó, những nội dung của thỏa ước lao động tập thể được tổng hợp đưa vào Bộ luật Lao động năm 1922, xác lập chế định pháp lý về thỏa ước lao động tập thể. Các chính phủ của nhà nước tư sản cũng bắt đầu thừa nhận thỏa ước lao động tập thể và sử dụng hình thức lập pháp nhà nước để xác nhận. Năm 1918, Đức ban hành luật về “thỏa ước lao động, người lao động và hội nghị thương lượng về tranh chấp lao động”, năm 1921, ban hành “Luật về thỏa ước lao động”. Pháp ban hành 10 “Luật về thỏa ước lao động” năm 1919.

Năm 1935, Hoa Kỳ ban hành “Luật về quan hệ lao tư” trong đó bao gồm các nội dung về thỏa ước lao động tập thể. Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, trong động lập pháp ở các nước xã hội chủ nghĩa (cũ) và tư bản chủ nghĩa có bước phát triển mới, đều quy định cụ thể thỏa ước lao động tập thể thành một nội dung trong pháp luật lao động quốc gia và theo xu hướng ngày càng mở rộng các điều khoản có thể ký kết. Đặc biệt là phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa có thỏa ước lao động tập thể đã được ký từ tầm “vĩ mô” của một ngành trong cả nước (liên bang hoặc bang) để các doanh nghiệp ký kết bổ sung một số điều khoản thỏa thuận mềm hơn, nhất là các điểu khoản có lợi hơn cho người lao động. Tổ chức lao động quốc tế ILO đã có hai công ước trực tiếp về lĩnh vực thỏa ước lao động tập thể đó là Công ước số 98 (năm 1949) về việc áp dụng các nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể; Công ước số 154 (năm 1981) về xúc tiến thương lượng tập thể.

Hai công ước quốc tế này đảm bảo quyền bình đẳng trong thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể, bảo vệ công đoàn, nâng cao vị trí của người lao động trong quan hệ lao động. Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO thì Thỏa ước lao động tập thể là mọi thỏa thuận bằng văn bản thì những điều kiện lao động và sử dụng lao động được ký kết giữa một bên là người sử dụng lao động, một nhóm người sử dụng lao động hoặc nhiều tổ chức đại diện của người lao động, hoặc nếu không có các tổ chức đó là các đại diện của người lao động hữu quan được họ bầu ra và ủy quyền theo pháp luật và quy định quốc gia. Lịch sử hình thành thỏa ước lao động tập thể ở Việt Nam Tại Việt Nam, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 12/3/1947 Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh số 29/SL- nội dung của sắc lệnh đề cập đến việc điều chỉnh mối quan hệ lao động làm công ăn lương. Đây có thể nói vấn đề về Thỏa ước lao động tập thể được nhắc tới lần đầu tiên tại Việt Nam.

Trong thời kỳ kinh tế, kế hoạch tập trung Thỏa ước lao động tập thể được hiểu là hợp đồng tập thể. Tuy chưa có điều kiện để sau đó triển khai thực hiện. Sau khi hòa bình lập lại ở miền bắc, trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế, Luật Cộng đoàn (05-11-1957) đã quy định: “trong các xí nghiệp 11 nhà nước, công đoàn thay mặt cho công nhân viên chức tham gia quản lý xí nghiệp và ký kết hợp đồng tập thể (tức thỏa ước tập thể) với giám đốc xí nghiệp”. Trong thời ngụy quyền Sài Gòn, thỏa ước lao động tập thể được gọi là “cộng đồng hiệp ước lao động” hoặc “thỏa ước xí nghiệp” và được thực hiện trong nhiều doanh nghiệp, công ty thời đó.

Điển hình là “Thỏa ước xí nghiệp Shell” (23- 02-1968) giữa công ty Shell Việt Nam và nghiệp đoàn công nhân dầu hỏa và hóa phẩm Việt Nam, “Thỏa ước xí nghiệp Esso” (01-01-1965), “Thỏa ước xí nghiệp điện lực” (21-08-1971), “Cộng đồng hiệp ước cao su”(23- 05-1960),. Trên cơ sở này, năm 1963, Hội đồng chính phủ ban hành nghị định số 17/CP về Điều lệ tạm thời chế độ ký kết hợp đồng tập thể ở các xí nghiệp Nhà nước. Đến những năm 1974-1975, số xí nghiệp Nhà nước thực hiện trên đã tăng lên đáng kể. Do nhận thức chưa rõ thực chất của vấn đề thỏa ước lao động tập thể và do những khó khăn trong sản xuất và quản lý, từ năm 1978, phong trào ký kết hợp đồng tập thể giảm dần và bị lãng quên sau đó.

Chỉ sau thời kỳ đổi mới, những năm cuối thập kỷ 80, việc ký kết thỏa ước lao động tập thể mới được khơi dậy, với nhận thức về thỏa ước lao động tập thể mới hoàn toàn, cùng với những đổi mới toàn diện về kinh tế xã hội của đất nước. - Thời kỳ đổi mới sau năm 1986, Ở nước ta, qua các thời kỳ thì thỏa ước lao động tập thể cũng có sự định nghĩa khác nhau cụ thể như sau: Điều 44 Bộ luật lao động 1994 quy định: “1- Thoả ước lao động tập thể (sau đây gọi tắt là thoả ước tập thể) là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các Điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động. Thoả ước tập thể do đại diện của tập thể lao động và người sử dụng lao động thương lượng và ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và công khai. 2- Nội dung thoả ước tập thể không được trái với các quy định của pháp luật lao động và pháp luật khác.

12 Nhà nước khuyến khích việc ký kết thoả ước tập thể với những quy định có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật lao động.” Tiếp nối BLLĐ 1994, nền sản xuất trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ. Đến khi Bộ luật lao động 2012 ra đời thay thế cho Bộ luật lao động 1994 thì quy định về thỏa ước có sự thay đổi. Cụ thể: Điều 73 Bộ luật Lao động 2012 quy định: “1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Về Thỏa Ước Lao Động Tập Thể Và Thực Tiễn Tại Công Ty TNHH Công Nghiệp Giầy Aurora Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về thỏa ước lao động tập thể, tập trung vào thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Công Nghiệp Giầy Aurora Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về quy trình đàm phán, ký kết và thực thi thỏa ước lao động tập thể, đồng thời phân tích những thách thức và cơ hội trong việc đảm bảo quyền lợi của người lao động và doanh nghiệp. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến luật lao động, quản trị nhân sự và các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động trong doanh nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bằng tòa án và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân Quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh, và Luận văn thạc sĩ luật học chấm dứt hợp đồng lao động quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các khía cạnh pháp lý và thực tiễn trong lĩnh vực lao động.