Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP LAO DONG CA NHAN VA GIAI QUYET TRANH CHAP LAO DONG CA NHAN BANG TOA AN NHAN DAN 1. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 1. Tranh chấp lao động cá nhân - Khải niệm tranh chấp lao động ca nhán Khi QHLD được xác lập, trong suốt quá trình thực hiện, các bên NLD và NSDLD luôn mong muốn làm thé nào dé bảo đảm tối đa quyên và lợi ích của mình. Mục tiêu hướng tới của bên NLĐ là làm thế nào để có tiền công cao, thời giờ làm việc rút ngăn, điều kiện an toàn vệ sinh lao động được đảm bảo.
còn mục tiêu hướng đến của NSDLD là làm thé nào để giảm chi phí cho lao động như trả lương thấp, kéo dai thời giờ làm việc. Do lợi ich của các bên ngược chiều như vậy nên tranh chấp lao động giữa NLĐ và NSDLĐ xảy ra mang tính tất yếu, khách quan. Vậy tranh chấp lao động cá nhân là gì? Muốn hiểu được khái niệm này chúng ta phải tìm hiểu khái niệm TCLD nói chung. Theo khảo cứu của chúng tôi, khái niệm "tranh chấp lao động" chính thức được sử dụng trong Thông tư liên ngành số 02/TT-LN ngày 02/10/1985 của TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động và Tổng cục dạy nghề về việc hướng dẫn thực hiện thâm quyền xét xử của Tòa án về một số việc tranh chấp trong lao động.
Sau đó, khái niệm tranh chấp lao động được đưa ra trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết TCLĐ năm 1996. Điều 27 Pháp lệnh định nghĩa: "Tranh chấp lao động là bất đồng nảy sinh giữa hai bên về việc thực hiện hợp đồng lao động". Do thời gian này QHLĐ chưa phát triển nên TCLĐ diễn ra còn ít và Nhà nước chưa có kinh nghiệm thực tiễn về giải quyết TCLĐ. Theo định nghĩa trên, pháp luật đã đồng nhất "tranh chấp" với "bất đồng" mặc dù theo 10 Từ điển Tiếng Việt "bất đồng" và "tranh chấp" được hiểu rất khác nhau.
Khắc phục bắt cập này, BLLĐ năm 1994 ra đời, tại Điều 157 đã đưa ra định nghĩa về TCLĐ như sau: "Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương và các điều kiện lao động khác, về việc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề". Theo đó, khoản 2 Điều 157 BLLD năm 1994 cũng quy định rõ tranh chấp lao động bao gồm hai loại: TCLĐCN giữa NLD với NSDLD, TCLĐ tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ. Cơ chế giải quyết TCLĐ tùy thuộc vào các loại TCLD theo cách phân loại này. Sau thời gian thực tế áp dụng BLLD năm 1994, Luật sửa đối, bổ sung BLLĐ năm 2006 đã đưa ra định nghĩa TCLĐ như sau: "Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động”.
Theo đó, TCLD được phân thành hai loại như trên. Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/5/2013 cũng phân loại TCLĐ thành TCLĐCN và TCLĐ tập thể. Hai loại tranh chấp này có sự khác nhau về quy mô chủ thê tham gia, mức độ ảnh hưởng và có cơ chế giải quyết riêng. Theo Điều 3 BLLĐ năm 2012 thì TCLĐCN là "tranh chấp lao động xảy ra giữa NLD và NSDLĐ", và không đưa ra khái niệm TCLD tập thé nói chung.
Qua quy định của pháp luật thì có thể thấy rằng, thông thường các TCLĐCN phát sinh trong quá trình thực hiện, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động, trong việc thực hiện chế độ tiền lương, trợ cấp hay bảo hiểm xã hội. Từ sự phân tích ở trên, có thể khái quát TCLĐCN là tranh chấp về quyên, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong QHLĐ và một số quan hệ liên quan đến quan hệ lao động. - Đặc điểm của tranh chấp lao động cá nhân Thứ nhất, một bên chủ thể của TCLĐCN là NLĐ hoặc là một nhóm NLD. Đúng như tên gọi của nó, TCLĐCN là tranh chấp giữa cá nhân NLD II hoặc một nhóm NLD với NSDLĐ, nó khác với tranh chấp lao động tập thể ở chỗ chủ thé trong TCLD tập thé là tập the NLD và thường có sự tham gia của tổ chức công đoàn.
Trong TCLĐCN nếu có sự tham gia của một nhóm NLĐ thì giữa những NLĐ này không có sự liên kết nào về quyền và lợi ích, mỗi cá nhân NLD có một yêu cầu riêng đối với NSDLĐ. Hiện nay pháp luật lao động Việt Nam không quy định nhóm người tham gia TCLĐ gồm bao nhiêu người thì được coi là TCLDCN. Chính vì chủ thé của TCLĐCN là cá nhân NLD hoặc một nhóm NLD với NSDLĐ cho nên TCLDCN là TCLĐ không mang tính tổ chức, không có quy mô và không phức tạp như TCLD tập thé, nó chỉ mang tính chất đơn lẻ, không có sự thống nhất ý chí và sự gắn kết giữa những NLD như trong TCLD tập thé. Thứ hai, nội dụng của TCLDCN là những tranh chấp liên quan đến quyên, nghĩa vụ và lợi ích của một cá nhân NLD hoặc trong một số trường hợp là của một nhóm NLD hoặc NSDLĐ phát sinh từ QHLD hoặc một SỐ quan hệ liên quan đến QHLĐ.
Tranh chấp lao động cá nhân thường phát sinh trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật vào từng QHLĐ cụ thể, nghĩa là tranh chấp về những vẫn đề mà pháp luật quy định cho các bên được hưởng, hay phải thực hiện hoặc những vấn dé mà các bên thỏa thuận từ trước trong hợp đồng lao động, như: việc làm, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,. Hoặc các van đề phát sinh từ quan hệ liên quan đến QHLĐ như: Hợp đồng dao tạo nghé, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bồi thường thiệt hại. Do đó, TCLĐCN thường phát sinh trong những trường hợp có sự vi phạm pháp luật. Day là điểm khác biệt của TCLDCN với TCLD tập thé.
Thứ ba, trong TCLDCN, tổ chức công đoàn tham gia với tư cách bảo vệ quyên, lợi ich hợp pháp cho NLD. Bởi chức năng của tổ chức công doan là đại diện và bảo vệ quyên, lợi ích chính đáng của người lao động. Trong việc giải quyết TCLĐ, quyền tham gia giải quyết tranh chấp của 12 tổ chức công đoàn là một trong những nguyên tắc giải quyết TCLĐCN được pháp luật quy định. Đối với TCLĐCN, tô chức công đoàn tham gia với tư cách là người đại diện và bảo vệ quyền lợi cho NLD, dé nghị NSDLĐ xem xét những yêu cầu của NLĐ.
Tổ chức công đoàn không tham gia với tư cách một bên tranh chấp, trực tiếp yêu cầu NSDLD giải quyết quyền lợi cho tập thé lao động như trong TCLD tập thé. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân - Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Từ quy định về TCLĐ như trên, có thể đưa ra khái niệm giải quyết TCLĐCN như sau: giải quyết TCLDCN là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhà nước có thâm quyền tiến hành những thủ tục theo luật định nhằm giải quyết những TCLD phát sinh giữa cá nhân NLD với NSDLĐ về việc thực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong QHLD và một SỐ quan hệ liên quan với QHLD. Mục đích của việc giải quyết này là nhằm khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp cua NLD hoặc NSDLĐ đã bị NSDLĐ hoặc NLD xâm hại; duy trì và củng cố QHLD, đảm bảo sự ồn định trong sản xuất, kinh doanh trong đơn vi. Bởi vì khi TCLDCN xảy ra, thì ít hoặc nhiều đều ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập của NLĐ cũng như tình hình sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ.
Do đó, việc giải quyết nhanh chóng, đứt điểm TCLDCN có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với NLD mà còn đối với NSDLĐ. - Mục đích giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Thứ nhất, giải quyết TCLDCN nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLD, NSDLD. Đối với NLD, thu nhập có được từ QHLD là nguồn sống chủ yếu của NLD và gia đình họ. Khi tranh chấp xảy ra và không được giải quyết thỏa đáng thì khong chỉ ảnh hưởng đến đời sống của bản than NLD mà còn khiến cuộc sống của gia đình họ gặp không ít khó khăn.
Thông qua việc giải quyết tranh TCLĐCN, những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của NLĐ 13 sẽ được đáp ứng, quyên, lợi ich hợp pháp của NLD được đảm bao. Bên cạnh đó, việc giải quyết TCLĐCN còn nhằm mục đích bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ. Bởi lẽ, trong nhiều trường hợp, không phải mọi yêu cầu của NLĐ đều hợp lý, chính đáng, thậm chí nó có thể xâm phạm đến quyên, lợi ich hợp pháp của NSDLĐ. Do đó, bảo vệ lợi ích của NSDLD cũng là mục đích của giải quyết TCLĐCN.
Tht hai, việc giải quyết TCLDCN nhằm duy trì, củng có QHLD và hoạt động sản xuất kinh doanh trong đơn vi sử dụng lao động. QHLD hai hòa, ồn định là một trong những yếu tô quan trọng dé đảm bảo lợi ích cho cả NLD và NSDLĐ. Vì vậy, cần thiết phải có sự dung hòa lợi ích của cả hai bên. Giải quyết TCLĐCN nhằm mục đích giúp các bên cùng nhau tiến hành thương lượng, thỏa thuận giải quyết mâu thuẫn, tránh những xung đột có thể làm cham dứt QHLD.
Việc giải quyết TCLDCN không chỉ nhằm củng có, duy trì QHLĐ mà còn góp phần làm ổn định đời sống, đảm bảo duy trì hoạt động bình thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sử dụng lao động, góp phan làm cho xã hội 6n định và phát triển. Thứ ba, giải quyết TCLĐCN nhằm hoàn thiện pháp luật lao động và pháp luật về tố tụng lao động. Khi tham gia giải quyết TCLĐCN, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động có điều kiện nhìn nhận, đánh giá tình hình, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật lao động, kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp nhằm tìm ra giải pháp phù hợp dé từ đó có thé rút ra kinh nghiệm để hoàn thiện hơn chức năng, quyền hạn của mình. Mặt khác, quá trình giải quyết TCLĐCN vừa đảm bảo cho các quy phạm pháp luật được áp dụng thống nhất, vừa kiểm tra tính chính xác của các quy phạm pháp luật đồng thời tìm ra sự khiếm khuyết hay bất hợp lý của các quy định pháp luật từ đó sửa đồi, hoàn thiện pháp luật một cách kip thoi.
- Các phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Phương thức giải quyết TCLDCN được hiểu là cách thức tiến hành giải 14 quyết TCLĐCN.