Chương 1 KHÁI QUÁT VE TRANH CHAP LAO ĐỘNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHAP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN DAN 1. Khái niệm về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh. chap lao động cá nhân. LLL Khái niệm tranh chip lao động cá nhân.
QHLD là một loại quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động lao động và sản xuất, trong QHLĐ thể hiện mỗi quan hệ vẻ phân công lao động, trao đổi, hop tác, thuê mướn va sử dung lao đông giữa các chủ thể tham gia lao động, Có thé nói, sự phân công lao động là cơ sở kinh tế xã hội dan đến sự ra đời của QHLĐ. Vì vậy, khi kinh tế xã hội cảng phát triển, phân công xã hội đạt đến trình đô cao thì QHLĐ cũng ngày cảng phúc tạp và đa dạng, TCLĐ la sản phẩm tat yếu của QHLD. Trong nên kinh tế hàng hóa, sức lao động được coi là một loại hàng hóa đặc biệt. Khi tham gia QHLĐ, các bên đền muôn đạt được mục dich tối đa của mình, bên lâm thuê thi mong muén lam thé nao để có tiễn công cao, còn mục tiêu của bên thuê là làm thé nao để giảm chỉ phi cho lao đông và khai thác được nhiễu giá trị sử dụng của sức lao động để dat được lợi nhuận tôi đa.
Sự mâu thuấn vé mat lợi ích giữa NLD và NSDLĐ la tiện tượng tắt yêu va phổ biển trong QHLD. Quan hệ lao động khác với quan hệ dân sư thông thường, điều này thể hiện thông qua đối tượng ma các bên hướng tới. Trong quan hệ dân sự, i tượng ma các bên hướng tới thường tổn tại đưới dang hang hóa, sản phẩm. hữu hình hoặc là những dich vụ.
va sức lao đông được két tinh trong hang ‘hoa, sản phẩm ma các bên thỏa thuận mua bán, trao đổi. Còn trong QHLĐ đối tượng ma các bên hướng tới lả giá trị sử dụng sức lao đông, biểu hiện trong. quá trinh lao động và được chuyển dân vào hang hóa sản phẩm hoặc dịch vu trong những điều kiện nhất định và khoảng thời gian nhất định. Trong quả trình lao động, lợi ich luôn chỉ phối, tao ra mỗi quan hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau giữa các bên, vẻ phía NLD, khi tham gia QHLD luôn mong muôn được trả lương cao, môi trưởng làm việc tốt để giém hao phí lao đông, bên cạnh đó, NLD côn mong muốn được dim bảo các điều kiện để đáp ứng được yêu cầu về văn hóa, tính thân tại nơi lam việc, giải trí để tai tạo sức lao động, Vẻ phía NSDLĐ, trong quá trình tổ chức sản xuất uôn mong muốn tim mọi cách để giém chi phí lao động như cắt giảm các chỉ phí cho công tác đảm bảo và cãi thiện đời sống, điều kiên, môi trường làm việc cho NLD, châm trả lương, trả không day đủ hoặc trả không đúng với năng suất lao động của NLD, châm thực hiện các ngiĩa vụ đối với nhà nước ảnh hưởng đến quyển lợi của NLD, chấm dit QHLD với người nay để thực hiện QHLĐ với người khác.
Tắt cả những hoạt đông nảy đều có thé chi phối trực tiếp đến quyền, lợi ích của NLB tạo nên mâu thuẫn tổn tại ngay trong quá trình QHLĐ. Từ những mâu thuẫn vốn có va trong quá trình thực hiện QHLĐ tắt yên xây ra zùng đột giữa NLD và NSDLĐ, tuy nhiên, sung đột mới chỉ được biểu hiện ở một mặt nao đỏ của QHLĐ, sự mâu thuẫn đó chỉ là sự phn ứng tức thời chưa thể hiện rõ nét mục đích cia chủ thể, Chỉnh vi thé, trong nhiêu. trường hợp mặc di các bên không chủ động giải quyết nhưng sang đột cũng có thể tự mat di. Chỉ khi mâu thuẫn, xung đột đạt đền một mức độ nhất định, lúc nay các bên tranh chấp sé thể hiên sự bất đồng của minh với bên kia bằng hành vi xử sự cụ thể thông qua lời nói hoặc bằng văn bản yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu bên thứ ba can thiệp, hỗ trợ giãi quyết tranh chấp.
Chủ thể va nội dung tranh chấp là hai đầu hiệu cơ bản thể hiện bản. chất của TCLĐ cá nhân so với các tranh chấp khác trong lĩnh vực dân sự. Khi tham gia vao môi quan hệ quyền dân sự, nhưng chỉ có những mâu thuẫn, xung. đột phát sinh từ lĩnh vực thuê mướn, sử dụng, trả cổng giữa NLD va NSDLĐ.
thì mới coi là TCLĐ cá nhân, dng thời, TCLĐ cá nhân phải là những tranh. 10 chấp liên quan đến việc thực hiện các nguyên tắc ứng xử, các quyển, nghĩa vu và lợi ích phát sinh trong QHLĐ. Tranh chấp lao đông cá nhân là một hiện tượng khách quan, phát sinh, tồn tại gắn liên với QHLĐ va với từ cách là một khái niêm pháp lý, TCLĐ cá nhân cũng mang tính lịch sử, xã hội. BLLĐ của chế độ Việt Nam Công hòa ‘van hanh ngày 15/7/1952, sử dung khái niệm phân tranh lao động để thể hiện.
sự bắt đẳng, mâu thuẫn giữa NLD và NSDLĐ va cum từ TCLĐ bat đầu được ghi nhân trong Pháp lệnh vé HĐLĐ ngày 30/8/1990. Tại Điều 17, Pháp lênh. định nghĩa "Tranh chấp lao động. đồng ndy sinh giữa hơi bên về việc tiực iện hop đẳng lao đông”.
Trong thời kỳ nay, đắt nước mới ỡ giai đoạn đầu của nén kinh tế thi trường theo định hướng zã hội chủ nghĩa, vì vay, QHLĐ còn ít, đơn giản, mọi TCLĐ cũng chỉ phát sinh những van dé bat đồng trong QHLD. ‘Mc dù định nghĩa nảy còn nhiều vẫn để chưa thỏa dang nhưng nó lê định nghĩa đâu tiên về TCLĐ được ghỉ nhận trong văn bản pháp luật và lam cơ sở cho sự việc sửa đổi, bd sung hoàn chỉnh về định nghĩa TCLĐ phủ hợp với điều kiên phát triển của tinh hình kinh tế sã hội của đất nước qua từng thời kỷ, Bộ luật Lao đông năm 1994 ra đời thay thé cho Pháp lệnh vẻ HĐLĐ đưa ra định nghĩa về TCLĐ, Theo đó, 'rani chấp lao đông là những tranh chấp về quyền và lot ích liên quan dén việc làm, tiền lương và các điều kiên lao động Rhắc vé thực hiện hợp đồng lao động, thôa ước lao động tập thé và trong quá trình học nghề". Qua một thời gian ap dụng, định nghĩa về TCLĐ theo BLLĐ năm 1994 chưa liệt kê một cách đây đũ các TCLĐ thực tế phát sinh như tranh chấp vẻ BHXH, bổi thường thiệt hại. cũng như nội hàm của van dé TCLĐ trong QHLĐ.
Vi vậy, Luật sửa đổi bé sung BLLĐ năm 2006 đã đưa ra định nghia TCLĐ như sau: “Tranh chấp lao đông ia những tranh chấp về quyên và lợi ich phát sinh trong quan hệ lao đông giữa người lao đông với người sit dung lao ding"! Theo định nghĩa này, phạm vi đối tượng tranh chấp 1 Hiwin 1 Đền 19, lì và dẫu hiệu tranh chấp cũng như chủ thể tranh chấp được quy định một cách hai quát hơn, cụ thể hơn, xác định rồ pham vi QHLĐ giữa NLD và NSDLD mới được coi là TCLD Qua qua trình thực hiện, BLLĐ năm 2012 sửa đổi, bổ sung một cach toàn điện những quy định còn bắt cấp, hạn chế cia BLLĐ năm 1904 và các lan sửa đỗi 2002, 2006 va 2007, trong đó, định nghĩa về TCLĐ được quy định như. sau: "Tranh chấp lao động là tranh chap về quyền, ngiữa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan lô lao động '®. Đình nghĩa về TCLĐ theo BLLĐ quy định ngẫn gon, đẩy đã va thể hiện một cách khái quát hơn về chi thé và nội dung tranh chấp, béi thực tế TCLĐ không chỉ phát sinh từ quyển, lợi ich của các bên mà côn phát sinh trong việc thực hiên nghĩa vu của các bên trong QHLD. Dong thời, chủ thể tranh chấp không đơn thuần chỉ la QHLĐ giữa NLD và NSDLD mà có thể tranh chap giữa tập thể lao động với NSDLD.
Tranh chấp lao đông bao gồm TCLĐ cá nhân giữa NLD với NSDLD và TCLD tập thể giữa tập thé lao động với NSDLD. Hai loại TCLĐ nay có sự khác nhau về quy mô, mức độ ảnh hưởng va có cơ chế giải quyết riêng. nay, PLLĐ quy đính hai cơ chế giải quyết TCLĐ, đó là cơ chế giải quyết TCLD cá nhân va TCLD tập thể. Để phân biệt dau hiệu của TCLĐ cá nhân hay TCLĐ tập thể không chi dựa vào dau hiệu chủ thé ma can căn cứ vào các.
nối dung khác như nội dung tranh chấp, mục đích tranh chấp. Thông thường, các TCLĐ cá nhân thường phát sinh trong qua trình thực hiến, thay đỗi hoặc cham dứt HĐLĐ, trong việc thực hiện chế độ tiễn lương, tién thưởng, các chế đô về BHXH. TCLĐ tập thể thường phát sinh trong việc thực hiện tha ước lao đồng tập thé, nôi quy lao động, các thỏa thuân khác hoặc yêu cầu xác lap điều kiện lao động mới so với các quy định của pháp luật vẻ lao đông Từ sự phân tích trên, TCLD ca nhân la những tranh chấp về quyền, nghĩa vụ, lợi ích giữa cả nhân NLD với NSDLĐ trong QHLB. 2 ein, BiG Ban chất của TCLĐ cả nhân phản ảnh những zung đột, mâu thuấn của các bên trong QHLĐ vẻ quyền, nghĩa vụ và lợi ích, đồng thời còn phân ánh.
những xung đột về giá trí tinh than của đời sống xã hội, vì vậy, ngoài những đặc điểm chung cia TCLĐ, TCLĐ cá nhân còn mang những đặc điểm riếng biết, đó là - Về mặt chủ thể, TCLD cá nhân trước hết là tranh chấp giữa một bên. 1 NLD và một bên la NSDLB trên cơ sở HĐLĐ. Như vay, trong tranh chấp nay, về số lượng chỉ có duy nhất một NLD với một NSDLĐ, hoặc cũng có thé 1a một nhóm NLD với một NSDLĐ nhưng những NLD này không có sự liên kết nao về quyển vả lợi ích, mỗi cả nhân NLD đều có một yêu cầu riêng đổi với NSDLĐ. Chính vi chủ thể của TCLĐ cá nhân là cá nhân hoặc một nhóm.
NLD với NSDLĐ cho nên TCLĐ cá nhân không mang tính tổ chức, không có quy mô, tính phức tạp vả thông nhất ý chi như TCLĐ tập thể. Day la một trong những dầu hiệu cơ bản để phân biệt TCLD cả nhên với TCLD tập thé. Trong một số trường hợp TCLĐ ca nhân có thể chuyển hóa thảnh. TCLD tập thể khi mâu thuẫn giữa các bên trở nên căng thẳng, hiệu ứng lan truyền có thể xây ra phản ứng mang tính tập thể, hoặc khi quyền va lợi ích.
của một cá nhân cũng lả quyền va lợi ich của một tập thể. Sự chuyển hóa tir TCLD cá nhân thành TCLĐ tập thể phan ánh một khía cạnh lý luận về QHLĐ. và TCLĐ, đó là QHLĐ và TCLĐ trước hét là quan hệ phát sinh giữa NLD với NSDLD.