Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU 1. Khái niệm hợp đồng vô hiệu vô hiệu 1. Khái niệm Xét về phương diện lịch sử, Luật Lao động ra đời tương đối muộn so với các ngành luật khác. Trong đó các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động đều được điều chỉnh bằng các quy định của Luật dân sự.
Vì vậy, trước đây pháp luật của hầu hết các nước đều coi HĐLĐ là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự, chịu sự điều chỉnh của Luật dân sự. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, phát triển của khoa học pháp lý nói chung, khoa học Luật Lao động nói riêng, trong quan niệm của các nước về HĐLĐ đã có sự thay đổi. Trong đó có nhiều quốc gia đã tách việc điều chỉnh pháp luật HĐLĐ ra khỏi sự điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng dân sự nói chung. Khái niệm HĐLĐ được các quốc gia tiếp cận bằng những cách thức khác nhau.
Ở Nhật Bản vì trước đó quan hệ lao động do luật về HĐDS điều chỉnh nên khái niệm HĐLĐ cũng chịu ảnh hưởng nhất định của HĐDS. Trong giai đoạn hiện nay, HĐLĐ được coi là loại hợp đồng đặc biệt. Khái niệm HĐLĐ có nghĩa là hợp đồng làm thuê. Trong hợp đồng làm thuê, một bên (làm công) có nghĩa vụ thực hiện một công việc nhất định, còn bên kia (người giao việc) có nghĩa vụ trả thù lao.
Như vậy, khái niệm HĐLĐ đã xác định được chủ thể và một phần nội dung của hợp đồng nhưng có nhược điểm là chưa phản ánh được bản chất của HĐLĐ. Còn theo Luật Lao động của Trung Quốc thì “HĐLĐ là sự thỏa thuận xác lập quan hệ lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ” (Điều 16). Ở đây, khái niệm đã xác định rõ chủ thể của quan hệ HĐLĐ và nêu lên vai trò của HĐLĐ trong việc xác lập và xây dựng mối quan hệ lao động song chưa đề cập đến nội dung của HĐLĐ. Trong khi đó tại Điều 17 Luật tiêu chuẩn Lao động của Hàn Quốc lại coi HĐLĐ được kí kết để ghi nhận rằng NLĐ làm việc cho 8 Luan van NSDLĐ trả lương cho việc làm đó.
Theo Điều 16 của Luật Lao động của Trung Quốc quy định "HĐLĐ là sự thỏa thuận xác lập quan hệ lao động, quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ. Xây dựng quan hệ lao động vẫn phải lập HĐLĐ". Ở đây đã xác định rõ chủ thể của quan hệ HĐLĐ và nêu lên vai trò của HĐLĐ trong việc xác lập và xây dựng mối quan hệ lao động song chưa đề cập đến nội dung của quan hệ lao động. Như vậy, dù có tiếp cận khái niệm HĐLĐ từ góc độ nào thì nó đều thể hiện được cái cốt lõi nhất của HĐLĐ là “thỏa thuận có giá trị pháp lý ràng buộc NLĐ và NSDLĐ”.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì “HĐLĐ là một sự ràng buộc pháp lý giữa một người sử dụng lao động và một người công nhân trong đó xác lập các điểu kiện và chế độ làm việc" [17,tr. Đây là một khái niệm tuơng đối đầy đủ các yếu tố của một HĐLĐ, tuy nhiên vẫn hạn chế ở việc quy định NLĐ chỉ là công nhân. Ở Việt Nam từ năm 1947 - năm ban hành Sắc lệnh 29/SL cho đến nay, có rất nhiều văn bản pháp luật quy định về HĐLĐ. Khái niệm HĐLĐ cũng được đề cập nhiều lần trong các quy định của Nhà nước.
Tại Điều 26, BLLĐ được Quốc hội thông qua ngày 23/06/1994, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1995 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ năm 2002, 2006 và 2007) quy định "Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động". Như vậy, so với các khái niệm về HĐLĐ được quy định trong các văn bản pháp luật trước đó, khái niệm HĐLĐ trong BLLĐ thể hiện tính khái quát hơn và phản ánh được bản chất của HĐLĐ, các yếu tố cơ bản cấu thành nên HĐLĐ. Khái niệm này tiếp tục được BLLĐ năm 2012 kế thừa, Điều 15 BLLĐ năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/05/2013 quy định “HĐLĐ là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động". 9 Luan van Hiện nay, BLLĐ năm 2019 (Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021) đưa ra khái niệm HĐLĐ tại Điều 13 quy định như sau: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động".
Nhìn chung các khái niệm về HĐLĐ đều đã nêu được các đặc điểm chủ yếu để nhận diện HĐLĐ cũng như nội dung chính để phân biệt HĐLĐ với các loại hợp đồng khác. Như vậy, HĐLĐ được hiểu là sự thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ về các nội dung cụ thể của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quá trình duy trì quan hệ lao động. Hay nói cách khác, các chủ thể của quan hệ lao động được xác định rõ ràng, sự thỏa thuận giữa họ ít nhất phải bao gồm các vấn đề về việc làm, tiền lương, điều kiện lao động, các quyền và nghĩa vụ của hai bên. Như các hợp đồng khác, HĐLĐ cũng là sự thỏa thuận giữa hai bên NLĐ và NSDLĐ.
Đó là sự trùng hợp ý chí (thống nhất ý chí) giữa các bên về các vấn đề (là nội dung của hợp đồng) mà các bên mong muốn đạt được. Nói cách khác, chỉ coi là sự thỏa thuận khi các cam kết mà các bên đưa ra phù hợp với ý chí đích thực của họ. Các cam kết được đưa ra do tác động của sự lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn, cưỡng bức. không được coi là sự thỏa thuận.
Tóm lại, khái niệm HĐLĐ có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung, giữa chúng đều có những điểm tương đồng nhất định, đặc biệt các khái niệm luôn nhấn mạnh đến yếu tố thỏa thuận - yếu tố tự do ý chí. Đây là yếu tố quan trọng và đặc trưng nhất trong ngành Luật dân sự nói chung và ngành Luật Lao động nói riêng. Khái niệm hợp đồng lao động vô hiệu 1. Định nghĩa hợp đồng lao động vô hiệu Mặc dù thuật ngữ HĐLĐ vô hiệu được sử dụng một cách thường xuyên trong khoa học pháp lý và thực tiễn giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về HĐLĐ 10 Luan van song thuật ngữ "HĐLĐ vô hiệu" gần như chưa được định nghĩa một cách chính thức.
Theo nghĩa thông thường, vô hiệu có nghĩa là không có hiệu lực pháp luật [30, tr. Hợp đồng vô hiệu được hiểu là một hợp đồng không tồn tại theo luật hoặc một hợp đồng không có giá trị pháp lý hoặc không có giá trị bắt buộc đối với các bên giao kết hợp đồng. Bên cạnh khái niệm hợp đồng vô hiệu, trong khoa học pháp lý về hợp đồng nói chung còn tồn tại khái niệm hợp đồng có thể vô hiệu. Theo đó, hợp đồng có thể vô hiệu là một hợp đồng có hiệu lực nhưng có thể bị vô hiệu theo sự lựa chọn của một trong các bên giao kết.
Hợp đồng đó sẽ vô hiệu nếu bên có quyền muốn vô hiệu hợp đồng, hoặc sẽ có hiệu lực nếu bên có quyền từ bỏ quyền vô hiệu của mình. Nhưng điều đặc biệt là không tồn tại khái niệm HĐLĐ có thể vô hiệu, điều đó có nghĩa là một HĐLĐ vô hiệu hay không phụ thuộc vào việc hợp đồng đó có tuân thủ quy định về hiệu lực HĐLĐ hay không chứ không phụ thuộc vào ý chí của các bên. Pháp luật thực định và khoa học pháp lý của các nước đều đề cập một cách gián tiếp về khái niệm HĐLĐ vô hiệu. Ở Trung Quốc, HĐLĐ được điều chỉnh bằng một Bộ luật riêng biệt "Luật HĐLĐ" do Quốc Hội nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 29/6/2007 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2008.
Tuy nhiên, trong Bộ luật cũng không có điều khoản nào định nghĩa về HĐLĐ vô hiệu mà chỉ ghi nhận các trường hợp vô hiệu của HĐLĐ và cách thức xử lý nó. Ở Nhật Bản, quan hệ lao động được điều chỉnh bằng nhiều đạo luật khác nhau như Luật Bảo hộ lao động, Luật điều chỉnh quan hệ lao động, Luật Công Đoàn, Luật về tiêu chuẩn lao động.Vì vậy, khái niệm về HĐLĐ vô hiệu cũng được đề cập rải rác ở các văn bản pháp luật này. Theo Điều 13, Luật tiêu chuẩn lao động Nhật Bản thì: "HĐLĐ nào quy định những điều kiện lao động thấp hơn tiêu chuẩn của Luật này thì hợp đồng đó coi là vô hiệu và trong trường hợp đó nó bị thay thế bởi những điều kiện tương ứng của Luật này" [32, tr. Tuy nhiên, khái niệm này chưa đầy đủ vì nó mới chỉ xác định HĐLĐ vô hiệu dựa vào 11 Luan van nội dung của hợp đồng mà chưa quy định các trường hợp vô hiệu của hợp đồng do vi phạm về hình thức hay các nguyên tắc giao kết hợp đồng, chủ thể của hợp đồng.
Ở Pháp, khái niệm HĐLĐ vô hiệu cũng không được quy định bằng điều luật cụ thể. Hệ thống pháp luật lao động hiện hành của Pháp đề cập tới HĐLĐ vô hiệu dưới góc độ ghi nhận các trường hợp vô hiệu của HĐLĐ và cách thức xử lý nó. Theo đó, khi một HĐLĐ không có giá trị, các bên không thể được phục hồi trạng thái cũ như là hợp đồng này chưa hề bao giờ tồn tại (Điều 77 BLLĐ). Trong chuyên đề Bàn về hiệu lực của HĐLĐ và việc xử lý hợp đồng vô hiệu, tác giả Phạm Thị Chính đưa ra các yêu cầu để xác định một HĐLĐ có hiệu lực để từ đó có căn cứ xác định HĐLĐ vô hiệu, theo đó hợp đồng không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu có hiệu lực của hợp đồng thì bị coi là hợp đồng vô hiệu.
Các yêu cầu đảm bảo cho một hợp đồng có hiệu lực bao gồm các yêu cầu về nguyên tắc giao kết, nội dung chủ yếu của hợp đồng, các hành vi pháp luật cấm; yêu cầu về chủ thể của hợp đồng (độ tuổi của chủ sử dụng lao động, NLĐ, thẩm quyền giao kết hợp đồng); về hình thức của hợp đồng; yêu cầu về cấp phép đối với lao động nước ngoài.