Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về đảm bảo bình đẳng giới trong pháp luật lao động; Chương 2. Thực trạng đảm bảo bình đẳng giới trong pháp luật lao động ở Việt Nam, và kiến nghị hoàn thiện 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐẢM BẢO BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về đảm bảo bình đẳng giới 1.
Khái niệm, đặc điểm bình đẳng giới “Bình đẳng giới được hiểu là nam giới và nữ giới cần nhận được những đối xử công bằng trừ trường hợp có một lý do hợp lý về mặt sinh học để đối xử khác biệt”1. Như vậy, bình đẳng giới được hiểu là sự đối xử công bằng giữa nam và nữ, đồng thời có xem xét đến sự khác biệt về mặt sinh học để đối xử khác biệt. Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006 về khái niệm bình đẳng giới thì “Bình đẳng giới là nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. Như vậy, theo quan điểm này thì bình đẳng giới được hiểu nam giới và nữ giới có vị trí, vai trò ngang nhau trong xã hội, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực ngang nhau và được thụ hưởng như nhau về thành quả đạt được.
Thực tế hiện nay quan điểm về bình đẳng giới vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau như: (1) Quan điểm cho rằng bình đẳng giới là những gì nam giới làm thì đổi cho nữ và những gì nữ làm thì đổi cho nam hoặc những gì nam giới được làm thì nữ giới cũng được làm, quan điểm này đi đến chủ nghĩa bình quân giữa nam và nữ mà không phải là bình đẳng giới; (2) Quan điểm khác lại cho rằng về thể chất phụ nữ yếu hơn đàn ông, nên khi thực hiện bình đẳng giới cần miễn cho phụ nữ tham gia vào một số lĩnh vực được coi là không ph hợp với đặc trưng của nữ giới. Về bản chất, quan điểm này đã hạn 1 Rounaq Jahan, 2010, Strengthening national mechanisms for gender equality and the empowerment of women, trang 10, https://www.org/womenwatch/ daw/TechnicalCooperation/ GLOBAL_SYNTHESIS_REPORT_Dec%202010.pdf, truy cập ngày 10/09/2022 10 chế các quyền và cơ hội phát triển của phụ nữ, qua đó đã hợp lý hóa sự bất bình đẳng đối với phụ nữ. (3) Quan điểm còn lại có thừa nhận về việc phụ nữ yếu thế trong vài khía cạnh nhất định nhưng lại không coi đó là cơ sở để đặt giới nữ vào vị trí phụ thuộc vào nam giới. Đây là quan điểm bình đẳng giới về khía cạnh thực chất.
Từ một số quan điểm, khái niệm trên về bình đẳng giới có thể hiểu bình đẳng giới là sự đối xử công bằng giữa nam giới và nữ giới, nhưng trong một số trường hợp thì dựa trên cơ sở khác biệt về giới và đặc điểm sinh lý về giới mà phải có sự đối đãi hợp lý đối với từng giới. Bình đẳng giới có một số đặc điểm sau: - Tính công bằng: nam giới và nữ giới được đối xử công bằng với nhau, có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực như nhau trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình. Và được hưởng thụ như nhau về thành quả đạt được. - Tính ưu đãi: do đặc điểm sinh học và vị trí, vai trò xã hội của nam giới và nữ giới khác nhau, nên trong một số trường hợp phải có những ưu đãi dành riêng cho nam giới hoặc nữ giới.
Trong xã hội Việt Nam hiện nay, cũng như nhiều nước trên thế giới, nữ giới có phần thiệt thòi hơn so với nam giới về tâm sinh lý cũng như vị thế xã hội, vì vậy khi đề cập đến tính ưu đãi thường là dành cho nữ giới. Điều này được thể hiện qua việc bên cạnh những quy định áp dụng chung cho cả nam và nữ, pháp luật còn quy định những đặc quyền chỉ áp dụng đối với phụ nữ, nhằm b đắp cho họ những thiệt thòi, đặt họ vào vị trí xuất phát ngang bằng với nam giới trong các quan hệ xã hội, bảo đảm cho họ có thể tiếp nhận các cơ hội và hưởng thụ các quyền một cách bình đẳng như nam giới. - Tính linh hoạt: sự đối xử với phụ nữ cần mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. 11 Trái ngược với bình đẳng giới là phân biệt đối xử về giới.
Theo Điều 1 Công ước của Li n ợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW) thì phân biệt đối xử với phụ nữ là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ được công nhận, thụ hưởng, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng nam nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào. Còn theo khoản 5 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì “phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các l nh vực của đời sống xã hội và gia đình”. Phân biệt đối xử về giới sẽ gây thiệt hại hoặc cản trở sự tiến bộ của phụ nữ và nam giới. Hiện nay, phân biệt đối xử về giới thể hiện ở hai phương diện: hữu hình và vô hình.
Quan điểm trọng nam khinh nữ là vô hình, vô hình là do ai cũng biết đó là quan điểm sai nhưng vẫn được chấp nhận trên thực tế. Còn sự hạn chế phụ nữ tiếp cận các nguồn lực và thụ hưởng các lợi ích là hữu hình2. Theo đó, phân biệt đối xử về giới có nhiều nguyên nhân dẫn đến từ định kiến giới. Định kiến giới được hiểu theo Khoản 4 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 là “nhận thức, thái độ và đánh giá thi n lệch, ti u cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ”.
Định kiến giới thường được thể hiện dưới hai hình thức: một là thổi phồng hoặc cường điệu một số đặc điểm, phẩm chất của phụ nữ hoặc nam giới; Hai là coi thường hoặc phê phán một cách thái quá một số đặc điểm, phẩm chất của phụ nữ hoặc nam giới3. Ví dụ: định kiến giới phụ nữ là người hẹp hỏi, ích kỷ, làm việc kém hiệu quả so với nam giới hoặc phụ nữ có đầu óc không nhanh nhạy bằng nam giới, không 2 Nguyễn Mạnh Tường (2008), “Triết lý về con người và nhận thức về giới”, Tạp chí luật học, (03), tr. 3 Nguyễn Mạnh Tường (2008), “Triết lý về con người và nhận thức về giới”, Tạp chí luật học, (03), tr. 12 hăng hái trong công việc, thiếu khả năng quyết đoán, từ nhận thức trên, đã dẫn đến các các chức vụ lãnh đạo ít được đề bạt phụ nữ nắm giữ.
Định kiến giới vừa là ngòi dẫn của phân biệt đối xử về giới, vừa củng cố duy trì phân biệt đối xử về giới trong xã hội. Khái niệm, đặc điểm đảm bảo bình đẳng giới trong pháp luật lao động Khái niệm đảm bảo bình đẳng giới trong pháp luật lao động Đảm bảo bình đẳng giới trong pháp luật theo Khoản 6 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 là “các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự ch nh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ hông làm giảm được sự ch nh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được”. Còn trong pháp luật lao động, đảm bảo bình đẳng giới là các biện pháp được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 13 Luật Bình đẳng giới 2006 gồm các nội dung như: “quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ; Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại”.
Tóm lại, đảm bảo bình đẳng giới trong pháp luật lao động là các biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo cho lao động nữ có vị trí, vai trò ngang với nam giới, được tạo điều kiện và cho cơ hội để phát huy năng lực của mình, và được nhận như nhau về thành quả của các nỗ lực đó. 13 Đặc điểm đảm bảo bình đẳng giới trong pháp luật lao động Thứ nhất, là các biện pháp đảm bảo bình đẳng giới này do pháp luật lao động quy định và được ràng buộc thành trách nhiệm đối với các NSDLĐ để đảm bảo các biện pháp này phải được thực hiện và hướng tới mục tiêu xóa bỏ khoảng cách giới trong lao động. Thứ hai, các biện pháp đảm bảo bình đẳng giới tùy thuộc rất lớn vào tình hình kinh tế xã hội, tư tưởng về giới, và phong tục tập quán của từng địa phương. Hiện nay ở Việt Nam đang khó thực thi trong thực tế bởi lẽ một bộ phận phụ nữ sống ở nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trẻ em gái.
vẫn còn nhiều thiệt thòi do thiếu các điều kiện để tiếp cận các chính sách và thụ hưởng thành quả của sự phát triển xã hội mang lại, do tư tưởng định kiến giới vẫn còn tồn tại trong gia đình và xã hội. Thứ ba, xu hướng nữ quyền Việt Nam đã và đang thay đổi từng ngày. Trong vòng một thế kỷ đến nay, phong trào nữ quyền đã thay đổi xã hội Việt Nam một cách đáng kinh ngạc. Nhưng hiện tại, hình tượng phụ nữ tiêu chuẩn vẫn chưa thay đổi quá nhiều.
“Tứ đức” vẫn là một thước đo quan trọng cho phụ nữ. Sự tồn tại của những phong tục xưa cũ đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người Việt Nam. Từ xưa đến nay, áp bức giới là một phần của tâm lý cộng đồng theo giáo lý Nho giáo.