Chương I, điều 5, Luật Bình đẳng giới 2006). Ngoài ra, còn có quan niệm khác về giới tính “là những đặc điểm sinh học, về cấu tạo cơ thể liên quan đến chức năng sinh sản, di truyền của phụ nữ và nam giới. Đây là những đặc điểm mang tính bẩm sinh, sinh ra đã như vậy, không thay đổi được” được ghi trong Tài liệu Kỹ năng lãnh đạo, quán lý dành cho các bộ nữ dân tộc thiểu số cấp huyện của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 5 Ta có thể thấy, giới tính là đề cập đến một tập hợp các thuộc tính sinh học ở người và động vật có liên quan đến các đặc điểm sinh lý. Các đặc điểm sinh lý bao gồm nhiễm sắc thể, biểu hiện gen, chức năng hormone và giải phẫu sinh sản/tình dục.
Khái niệm bình đẳng giới trong giáo dục Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới, trẻ em trai và trẻ em gái đều có được vị thế như nhau trong xã hội; được thực thi đầy đủ các quyền con người mà không bị phân biệt đối xử; được hưởng mức độ tôn trọng như nhau trong cộng đồng; được coi trọng như nhau; có thể tận dụng các cơ hội như nhau để đưa ra các lựa chọn về cuộc sống của mình và mong đợi các kết quả tương ứng; có mức độ quyền lực như nhau để tạo ra các kết quả từ những lựa chọn này. Quan điểm bình đẳng giới khi chưa có nhận thức về giới: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) tập 1 thì Bình đẳng giới là sự được đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản là bình đẳng trước pháp luật. Quan niệm về bình đẳng giới với nhận thức giới: Bình đẳng giới là một tình trạng lí tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí xã hội như nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để phát huy đủ khả năng của mình nhằm đóng góp cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả của quá trình phát triển đó. Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ.
Để đạt tới bình đẳng giới trong một môi trường mà cơ hội, điều kiện và vị trí xã hội của phụ nữ thấp hơn nam giới thì việc đối xử đặc biệt với phụ nữ, ưu tiên cho phụ nữ trên một số mặt, chính là cơ sở để tạo lập bình đẳng thực sự. Như vậy, bình đẳng giới là sự bình đẳng về mặt pháp luật, về cơ hội (bao gồm cả bình đẳng trong thù lao cho công việc và việc tiếp cận đến các nguồn vốn con người và các nguồn lực sản xuất khác cho phép mở ra cơ hội này) và bình đẳng về “tiếng nói” (khả năng tác động và đóng góp cho quá trình phát triển). Để đạt được BĐG thì cần phẩn có được sự thay đổi toàn diện xã hội. Sự thay đổi này không chỉ là của từng cá nhân mà nó chỉ có thể là mong muốn của tất cả mọi 6 người.
Bất bình đẳng giới đã mang lại nhiều thách thức rất lớn, nhưng chúng ta có thế thấy rằng qua những hành động nhỏ của các cá nhân ở các phong trào xã hội có thể dẫn đến sự thay đổi lớn. BĐG trong giáo dục là việc nam nữ được bình đẳng về “đội tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng”; bình đẳng “trong lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo”; bình đẳng trong “việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ”. Khái niệm giáo dục “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội và về tư duy, để học có đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội” (Văn Tân, 1994, tr. Nhà trường là nơi tổ chức hoạt động giáo dục chặt chẽ nhất.
Các lớp học được sắp xếp theo một chương trình thống nhất hợp lí và do những người có trình độ chuyên môn cao hướng dẫn. Bên cạnh đó, giáo dục còn có thể diễn ra ngoài nhà trường do các tổ chức xã hội hoặc cha mẹ hướng dẫn; hoạt động giáo dục có thể tiến hành một cách chính quya và không chính quy. Một nền giáo dục hiện đaih tiến bộ thường được xem xét trên nhiều khía cạnh như tính đại chúng; tính nhân văn, dân tộc và nhân loại và cả sự bình đẳng về cơ hội học tập và trình độ học vấn giữa các nhóm xã hội. Các nhân tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong giáo dục 1.
Quan điểm bình đẳng giới truyền thống Trên thế giới cũng như ở Việt nam, có rất nhiều quan điểm khác nhau về bình đẳng giới. Từ lâu, các nhà lãnh đạo lớn trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm trong việc bảo vệ quyền lợi, khẳng định vị thế của người phụ nữ. Trong phạm vi nghiên cứu của để tài này chúng tôi dẫn ra quan điểm về bình đẳng giới như sau: Ngay từ thế kỷ XIX, C. Ăngghen – các lãnh tụ thiên tải của giai cấp vô sản toàn thế giới — đã chỉ rõ: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ.
Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho 7 sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần”; “người vợ trở thành người đầy tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội". “Tình trạng không binh quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế". Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bốc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội. Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế kỷ XIX – XX kế thừa quan điểm của C.
Ăngghen, chỉ ra tình cảnh khốn khổ của nữ công nhân lao động trong các nhà máy, công xưởng: “Hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói đúng hơn đang bị đọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân”. Ông chỉ rõ “Trong nông nghiệp, người lao động phụ nữ, vô sản cũng như nông dân, đều phải cố đem hết sức mình ra, phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm đến kiệt sức, hại đến sức khỏe của mình và của con cái để cố đuổi cho kịp người lao động nam giới trong nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa”; “họ cùng làm ở công xưởng 10 giờ/ngày, nhưng chỉ được tất cả có 1,1 – 1,5 mác, nam giới thì được 2,5 – 2,7 mác (mac: đồng tiền của Đức) và nếu trả công theo sản phẩm thì họ được 1,7 – 2,0 mác”. Phụ nữ “không có quyền gì cả vì pháp luật không cho họ có quyền bình đẳng với nam giới”, còn trong gia đình họ là “nô lệ gia đình”, bị nghẹt dưới cái gánh những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam lũ nhất, khổ cực nhất. Ông khẳng định: “Không còn nghi ngờ gì nữa, công xưởng tư bản chủ nghĩa đã đẩy các loại người lao động đó vào tình cảnh đặc biệt khó khăn.
Thế nhưng, xu hướng đòi hoàn toàn cấm chỉ phụ nữ và thiếu niên không được lao động trong công nghiệp, hoặc xu hướng duy trì chế độ gia trưởng về sinh hoạt là chế độ loại bỏ lao động đó, xu hướng đó thật là phản động, không tưởng”. Lênin chủ trương “Phụ nữ được bình quyền với nam giới về mọi mặt”, “Thủ tiêu chế độ đẳng cấp; quyền bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân, không phân 8 biệt trai gái, tôn giáo, chủng tộc”; “bổ nhiệm nữ thanh tra trong các ngành mà lao động nữ chiếm đa số”; “thành lập chế độ cộng hòa., thực hiện chế độ nhân dân bầu cử quan chức, nam nữ bình đẳng”; “hủy bỏ tất cả mọi sự hạn chế, không trừ sự hạn chế nào, đối với các quyền chính trị của phụ nữ so với các quyền của nam giới”. Người khẳng định: “Giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người luôn dành tất cả tình yêu bao la cho đồng bào, đồng chí…và một trong những vấn đề mà Hồ Chủ tịch đặc biệt quan tâm đó chính là bình đẳng giới.
Khi Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”. Nhận thấy được sự áp bức, chịu đau khổ của người phụ nữ và không được coi trọng trong xã hội phong kiến với tư tưởng “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”; trong khi đó phụ nữ lại giữ thiên chức cao cả của người mẹ, người vợ và là lực quan trọng của cách mạng nên Bác luôn quan tâm đến việc chăm lo giải phòng cho người phụ nữ. Trong giáo dục chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng kêu gọi “Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để theo kịp nam giới”.
Các quan điểm về bình đẳng giới của các nhà lãnh đạo lớn trên thế giới và ở Việt Nam có sức ảnh hưởng lớn trong chiến lược thực hiện BĐG. Mức độ ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo nêu trên đến tư tưởng quần chúng nhân dân vô cùng lớn, với những phát biểu về bình đẳng giới của các ông đã làm cho thế giới suy nghĩ và nhìn nhận lại vị thế, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.