Chương 1. MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TO CHỨC CÔNG DOAN TRONG VIỆC ĐẠI DIEN, BAO VỆ QUYEN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CUA NLD TẠI DOANH NGHIỆP VÀ SỰ DIEU CHINH CUA PHÁP LUẬT 1. Khai quát về t6 chức công đoàn 1. Dinh nghĩa tổ chức công đoàn Bắt đầu từ thế kỷ XVIII, hầu hết xã hội phương Tây, nhất là nước Anh với nhiều biến động diễn ra, chứng kiến sự chuyền đổi từ nền văn hóa trồng trọt với nền tảng sản xuất thủ công sang cuộc cách mang công nghiệp lần thứ nhất.
Bên trong cuộc chuyên minh này nhiều biến động đã thúc đây sự xuất hiện của công đoàn. Những biến động lúc bấy giờ gây ra những lo ngại ngày càng tăng đối với thợ thủ công và các phường hội. Họ lo sợ bị chiếm mat những công việc đã ồn định từ xưa, sợ những đổi thay về lương bổng và phương thức lao động. Hơn nữa, sự bùng phát cua xã hội công nghiệp đã lôi kéo phụ nữ, trẻ em, NLD từ ruộng đồng vào lực lượng công nhân, với số lượng lớn và với những vai trò mới mẻ.Từ đây hình thức công đoàn bắt đầu manh nha hình thành.
Theo cuốn Lịch sử chủ nghĩa Công đoàn (History of Trade Unionism) (1984) của Sidney va Beatrice Webb, công đoàn là “nội hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các diéu kiện thuê mướn họ”. Có một định nghĩakhác của Cục Thống kê Úc cho rằng, công đoàn là "một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những người làm thuê, hoạt động cơ bản là thương lượng về lương bồng và điều kiện thuê mướn cho các thành viên của øó"[1].Trải qua hàng trăm năm, các công đoàn phát triển thành nhiều dạng thức dưới sự ảnh hưởng của các thé chế chính trị và kinh tế.Mục tiêu và hoạt động cụ thê của các công đoàn có khác nhau, nhưng thường bao gồm: - Cung cấp lợi ích dự phòng: Các công đoàn thời xưa thường cung cấp nhiều lợi ích để bảo trợ cho các thành viên trong trường hợp thất nghiệp, ốm đau, tuổi già hay chết. Ngày nay ở các nước phát triển những chức năng này được coi là thuộc về nhà nước, nhưng những quyền lợi khác như đào tạo huấn luyện, tư vấn và đại diện về luật pháp vẫn còn là những lợi ích quan trọng đối với thành viên công đoàn. - Thương lượng tập thể: Ở các nước mà công đoàn có thé hoạt động công khai và được giới chủ thừa nhận, các công đoàn có thể thương lượng với chủ thuê mướn lao động về lương bông và các điêu kiện làm việc.
- Hành động áp lực: Các công đoàn có thé tổ chức đình công hay phản đối để gây áp lực theo những mục tiêu nào đó. - Hoạt động chính tri: Các công đoàn có thé tác động đến những luật lệ có lợi cho toàn thé giới lao động. Họ có thể tiến hành những chiến dịch chính trị, vận động hành lang hay hỗ trợ tài chính cho những cá nhân hay chính đảng ứng cử vào các vi trí công quyên. Thực tế lịch sử cho thấy các công đoàn đều là tồn tại bất hợp pháp trong nhiều năm ở hầu hết các nước.Đã có những hình phạt khắt khe đối với những hoạt động của tô chức công đoàn, mặc dù thế, các công đoàn vẫn được thành lập và dần dần có được sức mạnh chính trị.
Kết quả cuối cùng là một bộ luật lao động không chỉ hợp pháp hoá những nỗ lực tổ chức công đoàn mà còn luật hoá mỗi quan hệ giữa giới chủ với những người làm thuê được tô chức thành những công đoàn. Nhiều người cho rang đây là van dé công bằng, khi công nhân được phép góp chung những nguồn lực của họ vào một thực thé pháp nhân, tương tự như việc góp vôn tư bản vào các công ty. Quyền gia nhập công đoàn đã được nhắc đến trong điều 23 phân đoạn 4 của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR), và được khăng định lại trong điều 20 phân đoạn 2 răng “Không được ép buộc bắt cứ ai trong việc tham gia vào một hiệp hội”. Việc cam đoán một người không được tham gia hay thành lập công đoàn, cũng như ép buộc một người làm việc ấy, dù là do chính phủ hay doanh nghiệp thực hiện, đều bị coi là hành vi xâm hại nhân quyên.
Những lý lẽ tương tự cũng được đặt ra khi người thuê mướn, phân biệt đối xử với NLĐ dựa trên việc có tham gia công đoàn hay không.Những mưu toan của người chủ, thường là với sự hỗ trợ của các lực lượng bên ngoài, nhằm cấm đoán 2 việc nhân viên của mình tham gia công đoàn được gọi là phá hoại công đoàn (union busting). Ở Pháp và Đức cũng như các quốc gia châu Âu khác, các đảng phái chủ nghĩa xã hội và những người vô chính phủ đóng một vai trò nổi bật trong việc tạo lập và xây dựng các công đoàn, đặc biệt là kế từ những năm 1870 về sau. Các công đoàn có thé t6 chức dựa trên một nhóm công nhân có cùng kỹ năng (chủ nghĩa công đoàn nghề nghiệp), những công nhân thuộc các ngành nghề khác nhau (chủ nghĩa công đoàn toàn thé), hay các công nhân trong toàn bộ một ngành công nghiệp (chủ nghĩa công đoàn ngành). Các công đoàn này thường phân chia theo địa phương và thống nhất với nhau thành các nghiệp đoàn quốc gia.
Các nghiệp đoàn này lại liên kết với nhau thành các tổ chức quốc tế như Liên hiệp Công đoàn Tự do Quốc tế (International Confederation of Free Trade Unions). Ở nhiều quốc gia, công đoàn có thé có vi thé như một một pháp nhân, được ủy quyền thương lượng với giới chủ thay cho các công nhân mà công đoàn đại diện. Công đoàn có quyền quan trọng nhất là quyền thương lượng tập thể với người thuê mướn lao động về lương, giờ làm cũng như các điều kiện thuê lao động khác. Việc hai bên không thé đạt đến thỏa thuận có thé dẫn đến những hành động gây áp lực, đỉnh điểm là đình công hay đóng cửa nhà máy không cho công nhân vào làm.
Trong một số trường hợp cực đoan, từ những sự việc này có thể nảy sinh bạo lực hay nhiều hành vi bất hợp pháp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác, các công đoàn có thể không có quyền đại diện hợp pháp cho công nhân.Sự thiếu vị thế của công đoàn có thể ở mức độ không được thừa nhận cho đến việc truy tố các nhà hoạt động công đoàn như tội phạm. Ngày nay, vấn đề về công đoàn cũng đã được Tổ chức lao động quốc tế ILO quy định trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công ước như: Công ước số 87 về quyền tự do liên kết và bảo vệ quyền được t6 chức; Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tô chức và thương lượng tập thé và Công ước số 135 về những đại điện NLD trong doanh nghiệp và những thuận lợi dành cho họ. Theo quan niệm của các quôc gia, công đoàn được định nghĩa như sau: Pháp luật của Nga quy định: “Công đoàn là một thực thé tự nguyện của mọi công nhân liên kết với nhau vì lợi ích ngành nghệ chung phù hop với tôn chỉ hoạt động của họ và lập ra dé đại diện và bảo vệ quyên lao động và xã hội cũng như lợi ích của NLĐ”.
Pháp luật CHDCND Trung Hoa quy định: “Công đoàn là một tổ chức tập thể của tang lop NLD được hình thành nên từ những NLD và cán bộ công nhân viên. Tổng liên đoàn lao động Trung Quốc và tat cả các tổ chức công đoàn cấp dưới hoạt động vì lợi ích cua NLD và các thành viên, bảo vệ quyên và lợi ích chính đáng cua họ theo quy định cua pháp luật”. Nhu vậy pháp luật của Nga va Trung Quốc đều xác định tổ chức công đoàn là tổ chức duy nhất được thực hiện chức năng đại diện quyền lợi cho tập thê lao động. Trong khi đó, pháp luật Campuchia và Lào lại có những quy định khác về phạm vi đại diện cho tập thê lao động.
Trong pháp luật Campuchia quy định khi ký kết thỏa ước, đại điện NLD gồm: “Một hoặc nhiều tổ chức công đoàn dai điện cho NLD. Voi ngoại lệ cho phép vi phạm nguyên tắc trên, trong giai đoạn chuyển tiếp mà không có công đoàn tổ chức đại diện của NLP trong doanh nghiệp hoặc cơ sở, thỏa thuận táp thể có thể được thực hiện giữa NSÙDLĐ và người đại biểu của NLD đã được bau hợp lệ thuộc quy định của phan 3, chương XI”. Có thé thấy hiện nay đa số các quốc gia đều thừa nhận đại diện lao động là t6 chức công đoàn nhưng thuộc nhóm này cũng tồn tại những quan niệm khác nhau. Có những quốc gia chỉ thừa nhận và cho phép loại đại diện là tổ chức công đoàn đơn nhất tham gia các mối quan hệ hai bên hoặc ba bên dé đại diện và bảo vệ quyền lợi cho tập thé NLD như Việt Nam, Trung Quốc.Đặc biệt ở các nước xã hội chủ nghĩa, đa số các quốc gia chỉ có một tổ chức công đoàn thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và là thành viên của hệ thống chính trị (Trung 4 Quốc, Việt Nam).
Mục tiêu chính của tổ chức công đoàn trong các nước xã hội chủ nghĩa là bảo vệ quyền lợi cua NLD, giáo dục, động viên NLD, tập hợp NLD vào tổ chức của mình. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, có nhiều hình thức đại diện lao động đa dạng song song cùng tổn tại và phát triển. Các quốc gia cho phép thành lập mô hình đa công đoàn và thừa nhận các hình thức đại diện lao động khác do NLD bau chon ra không thuộc hệ thống công đoàn (những đại diện cho tập thể lao động bau ra hoặc cử ra) như: Cộng hòa Séc, Nhật Bản, Malaysia, Hà Lan, Philipin, Thụy Điền. Tuy nhiên, việc thừa nhận tô chức công đoàn là đại diện lao động ở các quốc gia mang tính phổ biến và rộng rãi.
Tại các quốc gia thừa nhận hình thức này cũng có những quan niệm khác nhau về công đoàn trên các phương diện như: phạm vi chủ thê được phép tham gia thành lập công đoàn, cách thức tổ chức công đoàn, sự thừa nhận của pháp luật cũng như chức năng của tô chức công đoản. Một là, về mặt phạm vi các chủ thể được gia nhập thành lập công đoàn: có quốc gia thừa nhận chủ thé được tham gia chỉ bao gồm những người lào động và cán bộ công nhân viên (Trung Quốc), cũng có quốc gia cho phép mọi công nhân được tham gia thành lập tổ chức công đoàn (Nga), có quốc gia lại quy định công đoàn do NLĐ tự nguyện lập ra (Singapore, Việt Nam, Campuchia).