Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG CHƢA THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VỀ NGƢỜI LAO ĐỘNG CHƢA THÀNH NIÊN 1. Một số khái niệm liên quan đến ngƣời chƣa thành niên Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, con người có những quan niệm khác nhau về người CTN. Từ những quan niệm khác nhau đó, người ta đã hình thành nên các cách ứng xử, đối xử với nhóm người này cũng khác nhau.
Để có thể bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động CTN, tác giả xin đưa ra một số các quan điểm, khái niệm về người CTN trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Hầu hết người CTN ở các thời đại đều được ưu ái và tạo điều kiện tốt để phát triển thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, không phải những ưu ái đó đều tồn tại trong suốt quá trình lịch sử cũng như ở tất cả các vùng lãnh thổ. Trong quan niệm của người Hy Lạp cổ đại thì coi người CTN "như một vật tình cảm, thành phần quan trọng trong gia đình, biểu tượng của tương lai" [67] thì người Israel cổ đại lại có quan điểm ngược lại và coi các em là vật thuộc sở hữu tuyệt đối của người cha và cho phép ông ta có quyền định đoạt hoàn toàn ngay cả đối với tính mạng của chúng vì chúng là vật thể hiện cho sự không may mắn.
Theo tập quán của nhiều dân tộc trên thế giới hiện nay vẫn còn lưu giữ như Hàn Quốc, Nhật Bản, muốn chuyển từ lứa tuổi CTN sang lứa tuổi thành niên phải trải qua nhiều nghi lễ, rèn luyện và thử thách, gọi là tục thành đinh nguyên thủy. Sau lễ thành đinh, người CTN mới trở thành thành viên chính thức và thực sự của cộng đồng, mới có quyền lập gia đình, tham gia các hoạt động xã hội và tôn giáo tín ngưỡng. Ở Việt Nam cũng tồn tại nhiều khái niệm khác nhau khi chỉ về cùng một đối tượng người dưới 18 tuổi như khái niệm "trẻ em", "vị thành niên", "chưa thành niên" … Việc phân nhóm người CTN và người đã thành niên dựa 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên nhiều tiêu chí khác nhau nhưng thông thường thì các quốc gia dựa trên cơ sở các đặc điểm tâm, sinh lý, sức khỏe và nhận thức của độ tuổi. Do vậy, độ tuổi là điều kiện khi xem xét phân biệt người CTN với người đã thành niên.
Khái niệm "trẻ em" Theo Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Bách khoa toàn thư thì khái niệm "trẻ em" được hiểu là: Giai đoạn phát triển của đời người từ lúc sơ sinh cho đến tuổi trưởng thành. Có đặc điểm nổi bật là sự tăng trưởng và phát triển liên tục về thể chất và tâm thần. Quá trình phát triển của trẻ em trải qua các thời kỳ: sơ sinh, bú mẹ, trước khi đi học, đi học và tuổi dậy thì. Ở mỗi thời kỳ, có những đặc điểm sinh học khác nhau nên việc nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe cũng khác nhau, phù hợp với những đặc điểm của mỗi thời kỳ [70].
Trong khi đó, Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 ngày 15/6/2004 của Quốc hội quy định các quyền cơ bản, bổn phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là công dân Việt Nam có độ tuổi dưới 16 tuổi. Khái niệm "vị thành niên" Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa năm 2007 có giải thích về khái niệm "vị thành niên" là được hiểu là "chưa nên người, chưa tới tuổi trưởng thành" nhằm phân biệt với khái niệm "thành niên" với ý nghĩa là "đến tuổi trưởng thành, đến hạn tuổi mà pháp luật nhìn nhận đầy đủ sức khỏe và trí khôn trong việc gì đó". Khái niệm "người chưa thành niên" Tại Điều 18 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì xác định người CTN là người chưa đủ 18 tuổi và được phân nhóm độ tuổi thành ba nhóm người từ không đến chưa đủ 6 tuổi; người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi và người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Trong số 3 nhóm tuổi vừa nêu thì chỉ có nhóm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thứ nhất và nhóm thứ hai mới có năng lực hành vi dân sự và được tự mình xác lập một số giao dịch nhất định như sau: 1.
Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác [32, Điều 20]. Trong khi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự được cố gắng mở độ tuổi nhằm tạo điều kiện cho người CTN có năng lực hành vi dân sự thì các nhà lập pháp của Việt Nam lại dường như thu hẹp đối tượng hơn trong quan hệ pháp luật hình sự. Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định người CTN là đối tượng bị xử lý là người nằm trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Khái niệm "ngƣời lao động chƣa thành niên" theo pháp luật Việt Nam Đối với khái niệm "lao động chưa thành niên" thuộc phạm vi mà tác giả đang nghiên cứu được quy định tại Bộ luật Lao động (BLLĐ) ban hành năm 1994 đã xác định giới hạn trên của "người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi" (Khoản 2 Điều 119) nhưng phải đảm bảo giới hạn dưới ít nhất đủ 15 tuổi (Điều 6). Tuy nhiên, có một số nghề và công việc mà Nhà nước cho phép người sử dụng lao động (SDLĐ) được tuyển dụng người chưa đủ 15 tuổi vào làm việc với những điều kiện bắt buộc được quy định tại Thông tư số 21/1999/TB-LĐTBXH ngày 11/9/1999 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH). Theo Thông tư này thì người lao động là trẻ em phải đủ 12 tuổi. Riêng trẻ em tham gia biểu diễn nghệ thuật 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy định tại điểm 1 mục I của Thông tư này phải đủ 8 tuổi; Đối với một số trường hợp đặc biệt phải sử dụng trẻ em chưa đủ 8 tuổi do Bộ văn hóa - Thông tin quyết định.
Như vậy, giới hạn dưới tận cùng của độ tuổi được lao động không được luật pháp quy định mà do Bộ Văn hóa-Thông tin quyết định trên cơ sở đánh giá khả năng thực hiện của từng vụ việc. So sánh khái niệm "ngƣời lao động chƣa thành niên" ở Việt Nam và khái niệm "lao động trẻ em" theo luật pháp quốc tế Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả cũng được tiếp nhận thêm cụm từ và khái niệm khác có liên quan đến lao động CTN là "trẻ em lao động" và "lao động trẻ em". Từ "lao động" trong cụm từ "trẻ em lao động" là động từ có chức năng làm rõ hoạt động của chủ thể "trẻ em" để chỉ hoạt động của trẻ em mang tính lao động và không thuộc phạm vi pháp luật lao động điều chỉnh như: giúp cha mẹ làm việc nhà, giúp cha mẹ sản xuất kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ lao động công ích tại đơn vị đào tạo. Còn "lao động trẻ em" là một khái niệm để chỉ người lao động là nhóm trẻ em tham gia quan hệ lao động được pháp luật lao động điều chỉnh, trong đó, từ "lao động" có chức năng làm tính từ bổ nghĩa cho danh từ "trẻ em".
"Lao động trẻ em" cũng nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài trên cơ sở tác giả có tìm hiểu về ý nghĩa, tác dụng của việc cho phép và tạo điều kiện để "trẻ em lao động". Ở Việt Nam, người nào sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì có thể bị xử lý hình sự theo Điều 228 Bộ luật Hình sự. Tổ chức lao động quốc tế cũng sử dụng khái niệm "child labor" để chỉ về lao động trẻ em. Theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 và Điều 2 Công ước số 182 năm 1999 của Tổ chức lao động quốc tế về nghiêm cấm và các hành động khẩn cấp tổ chức này thì thuật ngữ "trẻ em" sẽ được áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi và những trẻ em này thực hiện các công việc dưới dạng lao động sẽ được coi là lao động trẻ em (LĐTE).
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, phạm vi đối tượng được coi là LĐTE của Tổ chức lao động quốc tế tương tự với phạm vi đối tượng mà pháp luật Việt Nam xác định về lao động CTN. Tuy nhiên, tổ chức lao động quốc tế cũng khuyến nghị các nước về độ tuổi tối thiểu được phép tuyển dụng lao động tại Công ước về tuổi tối thiểu được phép đi làm năm 1973. Theo khoản 3 Điều 2 của Công ước này thì các nước thành viên của Công ước không được quy định tuổi lao động tối thiểu dưới độ tuổi phải hoàn thành chương trình giáo dục cưỡng bách hoặc dưới 15 tuổi. Nếu nước thành viên của Công ước có trình độ phát triển hoặc cơ sở hạ tầng kinh tế giáo dục không cho phép và sau khi tham vấn ý kiến của các tổ chức SDLĐ và người lao động thì có thể quy định độ tuổi lao động không thấp hơn 14 tuổi.
Trong phạm vi đề tài này, căn cứ vào quy định của pháp luật về người CTN, pháp luật về lao động và trên cơ sở quan sát từ thực tế cuộc sống, tác giả sẽ tập trung chủ yếu nghiên cứu về các vấn đề đối với người lao động CTN trong độ tuổi từ 8 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trong đó, độ tuổi tối thiểu được tác giả dựa trên cơ sở Thông tư 21/1999/TB-LĐTBXH ngày 11/9/1999 của Bộ LĐTBXH và độ tuổi tối đa được dựa trên cơ sở quy định của BLLĐ và Bộ luật Dân sự.