Chương 1: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động theo pháp luật Việt Nam. Chương 2: Thực trạng áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động 1.
Khái niệm trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động Quá trình lao động sản xuất luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây ra tai nạn cho người lao động (NLĐ). Vì vậy, tai nạn lao động (TNLĐ) xuất hiện gắn liền với quá trình lao động và có thể xảy ra ở mọi ngành nghề, mọi quốc gia. TNLĐ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe, thu nhập của NLĐ mà còn ảnh hưởng đến thân nhân của NLĐ, người sử dụng lao động (NSDLĐ), Nhà nước và xã hội. Pháp luật Việt Nam quy định NSDLĐ sẽ phát sinh các nghĩa vụ đối với NLĐ khi xảy ra TNLĐ.
Do đó, việc xác định tai nạn như thế nào được xem là TNLĐ là một vấn đề quan trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), tại Nghị định thư năm 2002 về Công ước số 155 thì “TNLĐ là những chấn thương phát sinh từ hoặc trong quá trình làm việc mà hậu quả có thể gây tử vong hoặc không gây tử vong”1. Từ quy định mang tính chất bao quát của ILO thì mỗi khu vực, mỗi quốc gia sẽ có những định nghĩa về TNLĐ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Theo Liên minh Châu Âu “TNLĐ là những tai nạn xảy ra trong quá trình làm việc, dẫn đến tổn hại về thể chất hoặc tinh thần”2.
Tuy nhiên, ở một số quốc gia tại Châu Á có những cách định nghĩa khác về TNLĐ chẳng hạn như Singapore sử dụng thuật ngữ “work-related acident” để chỉ TNLĐ, nó được hiểu là bất cứ sự kiện ngoài ý muốn nào xảy ra trong quá trình làm việc mà dẫn đến chấn thương cho NLĐ như tai nạn trong giờ làm việc, thời gian tăng ca hay trong khi thực thi nhiệm vụ được giao, bao gồm cả tai nạn giao thông trong quá trình làm việc và tai nạn liên quan đến bệnh lý như bị đau tim, đột quỵ… của NLĐ mà dẫn tới tai nạn nếu bệnh lý 1 Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật lao động, NXB Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, tr.363 2 European Commission, European Statistics on Accidents at Work (ESAW) - Summary methodology Edition, Publications Office of European Union, Luxembuorg, 2013, p.5-6 10 đó được xuất phát bởi công việc của NLĐ3. Theo pháp luật Campuchia, TNLĐ là một tai nạn được coi là có liên quan đến công việc, bất kể nguyên nhân gây ra là gì, nếu tai nạn đó có xảy ra với NLĐ khi đang làm việc hoặc trong giờ làm việc, cho dù đó là lỗi của NLĐ hay không; Đó là tai nạn gây ra trên cơ thể của NLĐ hoặc một người học việc có hoặc không có tiền lương, những người đang làm việc với bất cứ năng suất nào hoặc ở bất cứ đâu cho một NSDLĐ hoặc một người quản lý của một doanh nghiệp. Tương tự như vậy, tai nạn xảy ra đối với NLĐ trong thời gian đi làm từ nơi cư trú của mình đến nơi làm việc và về nhà cũng được coi là TNLĐ miễn là hành trình này không bị gián đoạn hay đi đường vòng vì một lý do cá nhân hay không liên quan đến công việc4. Theo pháp luật Lào, TNLĐ là tai nạn làm cho NLĐ bị thương tật hoặc tử vong xảy ra trong các trường hợp sau: Trong thời gian đang làm nhiệm vụ tại nơi làm việc hoặc tại bất kỳ nơi nào khác theo sự phân công của NSDLĐ hoặc một người đại diện cho NSDLĐ; Tại khu vui chơi giải trí, quán giải khát hoặc nơi nào khác thuộc phạm vi trách nhiệm của cơ sở lao động; Trong thời gian di chuyển từ nơi ở đến nơi làm việc.
Tai nạn xảy ra trong suốt thời gian NLĐ thực hiện công việc cá nhân không theo phân công của NSDLĐ hoặc đại diện NSDLĐ hoặc xảy ra sau khi hoàn thành công việc được giao sẽ không được coi là TNLĐ5. Việt Nam xây dựng định nghĩa tai nạn lao động dựa trên khái niệm của ILO. Tại Khoản 8, Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 (Luật ATVSLĐ 2015), “TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”. Theo định nghĩa trên, tai nạn được xem là TNLĐ khi có 02 yếu tố đó là xảy ra trong quá trình lao động và gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về TNLĐ, tuy nhiên các định nghĩa có đặc điểm chung như sau: TNLĐ là sự cố bất ngờ, mang tính rủi ro, không mong đợi và ngoài ý muốn của NLĐ và NSDLĐ; Hậu quả của TNLĐ là có thiệt hại thực tế xảy ra tác động trực tiếp lên cơ thể NLĐ, ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc tính 3 https://www.sg/workplace-safety-and-health/work-accident-reporting/what-is-a-work- related-accident (Truy cập 15/12/2021) 4 Điều 248 Luật lao động Campuchia 5 Điều 54 Luật lao động Lào năm 2006 11 mạng của NLĐ; Tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với công việc, nhiệm vụ lao động, trong một khoảng thời gian và không gian cụ thể. Theo Khoản 1, Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 (BLLĐ năm 2019), NLĐ là người làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ, họ là các cá nhân trực tiếp tham gia vào quá trình lao động có thể làm việc bằng sức lao động hoặc lao động bằng trí óc. Trong quan hệ lao động, đây là quá trình mua bán sức lao động, trong đó sức lao động được coi là một loại hàng hóa mang tính chất đặc biệt vì những thuộc tính của nó. Trong quá trình sử dụng sức lao động của NLĐ, NSDLĐ đã thu về một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu bỏ ra.
NSDLĐ là người có vốn, có tài sản, được thực hiện quyền quản lý của mình, được quyền đưa ra những yêu cầu, mệnh lệnh về phía NLĐ, do đó NSDLĐ phải gánh chịu những rủi ro trong quá trình sử dụng sức lao động ấy 6. NSDLĐ phải có nghĩa vụ đảm bảo môi trường làm việc an toàn cho NLĐ, trong trường hợp xảy ra TNLĐ thì NSDLĐ phải chịu các trách nhiệm về vật chất và tinh thần theo quy định của pháp luật. Hiện nay chưa có khái niệm về trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ, tuy nhiên từ những phân tích như trên ta có thể hiểu: “Trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ là một loại trách nhiệm pháp lý mang tính chất bắt buộc của Nhà nước đối với NSDLĐ phát sinh khi xảy ra TNLĐ nhằm bù đắp tổn thất về vật chất, thể chất và tinh thần cho NLĐ hoặc thân nhân của họ”. Đặc điểm trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động Thứ nhất, về chủ thể của trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ Chủ thể của trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ gồm có NLĐ và NSDLĐ.
Tại Khoản 1, Điều 3 BLLĐ 2019 quy định NLĐ là người làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành giám sát của NSDLĐ. NLĐ theo pháp luật phải có các điều kiện để đảm bảo quyền và lợi ích của NLĐ không bị xâm phạm hay bị lạm dụng thì luật phải quy định điều kiện tối thiểu về sức khỏe, sự hiểu biết,… thì mới tham gia vào quan hệ lao động. Các điều kiện đó là: Thuộc độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật về lao động; Làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận; Được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ. Theo Khoản 2, Điều 3 BLLĐ 2019, NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ 6 Trường Đại học Huế (2013), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Nxb Đại học Huế, phần 2, tr.13 12 quan, tổ chức hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; Trường hợp NSDLĐ là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
NSDLĐ thông qua chủ thể có thẩm quyền có quyền tối cao trong việc quyết định các vấn đề kinh tế hay xã hội và quản lý quá trình lao động của NLĐ, đồng thời có nghĩa vụ đảm bảo các quyền lợi đối với NLĐ. Quy định NSDLĐ là chủ thể bị áp dụng trách nhiệm đối với NLĐ bị TNLĐ vì trong quan hệ lao động, NSDLĐ phải đảm bảo an toàn lao động, đưa ra các biện pháp phòng ngừa TNLĐ và cũng là người tổ chức, điều hành NLĐ để tạo ra lợi ích cho NSDLĐ. NLĐ luôn ở vị trí phụ thuộc vào NSDLĐ. Thứ hai, trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ luôn gắn liền với quan hệ lao động, phát sinh trong quan hệ lao động Quan hệ lao động được thiết lập trên sơ sở thương lượng, thỏa thuận với nhau thông qua giao kết hợp đồng lao động.
Hợp đồng lao động sẽ là căn cứ pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, trong đó có trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ. Theo Khoản 5, Điều 3 BLLĐ 2019, quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ, NSDLĐ, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hình thành trong quá trình sử dụng sức lao động giữa một bên là người có sức lao động (NLĐ) và một bên (cá nhân hoặc pháp nhân) là người sử dụng sức lao động đó. Trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị TNLĐ chỉ phát sinh khi họ đang trong quan hệ lao động và hành vi gây thiệt hại liên quan đến quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động. NLĐ phải thực hiện một nội dung hoạt động lao động nào đó, còn bên sử dụng sức lao động phải trả công, hoặc trả lương và đảm bảo những điều kiện lao động cần thiết khác cho họ.