Chương I, Il 2. NGUYEN QUANG TUYEN Chuong I, VIII, IV (phan A) 3. NGUYEN THI DUNG Chương VI, IV (muc II phan B) 4. PHAM THU THUY Chuong VII 5.
NGUYEN THI NGA Chuong V 6. NGUYEN HONG NHUNG Chương IV (mục Ï phần B) 7. HUỲNH MINH PHƯƠNG Chương IV (mục II phần B) LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm qua, Nhà nước ta đã bạn hành nhiều tăn bản quy pháp luật quan trọng về đất dai nhằm thể chế hoá đường lối chủ trưng của Đảng về đất đai trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Luật đất dui ndm 2003 ra đời nhằm giải quyết cắn bản những vấn để từ tru đến nạy chúng ta chưa thực hiện đây đủ nhự: Quan Hiệm moi về sở hữm đát dại, vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng quan lý nhà nước, văn đề nữĩnh bạch hoá các thu tục hành chính về đất đt, quyển của người sử chng đất, đặc biết là các tổ chức kính 16 trong nue va unde ngodl, neuen Việt Nam định cư ở nước ngoài Bên cạnh đó, việc phan định thâm quyền hành chính và thẩm quyển tự pháp trong gứi qHYyết tranh chấp về đất đai, chính sách tài chính về đất đai, việc bồi thường giải toa khi thực hiện việc thu hài đặt luôn là vấn để hệ trọng liên quan nhiều đến lợi ích của Nhà nước và nhân dan rat can ¢6 sự điều chỉnh phù hợp trong diéu kién mor, Nhằm dap tne nhu cau nghién cit, hoc tap mon luat dat đi cua cán bộ giảng dạy, học viền, sinh viền các trường đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức biên xoạn giáo trình luật đạt đai HỚI thẻ: CƠ Xở những trừ thức mới và những van ban quy pham phap luat dat dai do Nhà HHỚC ta moi han hanh.
Hy vong rdng, Giáo trình này sẽ là tài liệu học tập quan trọng của học viên, sinh viên, là tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu bổ ích của cán bộ, công chức, của các doanh nhân trong quá trình làm việc, kinh doanh trong lĩnh vực đất dai. Mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn nhưng Giáo trình vẫn khó tránh khỏi các hạn chế, khiếm khuyết nhất định. Chúng tôi ghỉ nhận sự góp ý, phê bình của bạn đọc nhằm làm cho Giáo trình luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội được hoàn thiện hơn trong những lần tái bản. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI CHUONG I — CAC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BAN VỀ NGÀNH LUAT DAT DAI CHUGNG I CAC VAN DE LY LUAN CO BAN VE NGANH LUAT DAT DAI I.
KHAI NIEM LUAT DAT DAI Nhiều ngành luật của Việt Nam có tên như văn bản luật quan trọng tạo thành nguồn của ngành luật đó, ví dụ như luật hình sự có Bộ luật hình sự là nguồn cơ bản của ngành luật này hoặc luật dân sự có Bộ luật dân sự. Có thể viện dẫn nhiều ngành luật khác như: Luật hôn nhân và gia đình, luật hiến pháp, luật lao động. Ngành luật đất đai thuộc trường hợp trên, vừa là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, vừa có nguồn luật cơ bản là luật đất đai. Như vậy, khái niệm luật đất đai được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất là một ngành luật, nghĩa thứ hai là văn bản luật được Quốc hội thông qua và đang có hiệu lực thị hành.
Ngành luật đất đai Dưới góc độ là một ngành luật, luật đất đai trước đây còn có tên gọi “luật ruộng đất”. Cách hiểu như vậy là thiếu chính xác, vì rằng khái niệm “đất đai” hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các loại đất như: nhóm đất nông nghiệp, nhóm 7 GIAO TRINH LUAT DAT DAI đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. trong mỗi nhóm đất lại được chia thành từng phân nhóm đất cụ thể theo quy định tại Điều I3 Luật đất đai năm 2003. Khái niệm “ruộng đất" theo cách hiểu của nhiều người thường chỉ loại đất nông nghiệp - đất tạo lập nguồn lương thực thực phẩm nuôi sống con người.
nói “luật ruộng đất” tức là chỉ một chế định của ngành luật đất đai. cụ thể là chế độ pháp lý nhóm đất nông nghiệp. không thể có sự đánh đồng giữa khái niệm một ngành luật với khái niệm một chế định cụ thể của ngành luật đó. Theo cách phân chia ngành luật truyền thông.
các ngành luật có đối tượng điều chỉnh riêng và phương pháp điều chỉnh riêng. Ngành luật đất đai điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội chuyên biệt, được các quy phạm pháp luật đất đai điều chính và các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai được Nhà nước dùng pháp luật tác động vào cách xử sự của họ với các nhương pháp và cách thức khác nhau. ngành luật đất đai có đối tượng và phương phấp điều chỉnh riêng. Môn học luật đất đai có thể chia thành 2 phần.
phần chung và phần riêng. mặc đù trong thiết kế về tổng thể các chế định nên xuyên suỏt từ phần chung sang phần riêng mà không nén chia thành 2 phần có sự độc lập tương đối với nhau. Phân chung gồm các chương cơ bạn tạo thành phần ly luận chung của ngành luật. như: các vấn đề lý luận cơ bản về ngành luật đất đai: quan hệ pháp luật đất đái: chế độ sở hữu toàn dan về đất đai; chế độ quản lý nhà nước về đất đai.
Phần riêng gồm địa vị pháp lý của người sử dụng đất: thú tục hành chính trong quản lý. sử dụng đất đai: giải quyết tranh chấp khiếu nại về đất đai: các chế độ pháp lý về nhóm đất nông § CHUONG CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BAN VE NGANH LUAT DAT DAI nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp. Ngành luật đất đai gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Nhà nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Qua mỗi giai đoạn lịch sử, Hiến pháp năm 1946.
959, 1980 và Hiến pháp nam 1992 đã có những quy định khác nhau về vấn đề sở hữu đất dai từ đó để xác lập chế độ quản lý và sử dụng đất. Nếu như Hiến pháp nam 1946 xác lập nhiều hình thức sở hữu vẻ đất đai. sau đó đến Luật cái cách ruộng đất năm 1953 còn lại hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu Nhà nước và sở hữu của người nòng dân thì Hiến pháp năm 1959 tuyên ngôn cho ba hình thức sở hữu vẻ đất đai là: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân về đất đai. Đến Hiến pháp nam 1980 và đặc biệt là Hiến pháp năm 1992.
chế độ sở hữu đất đat được quy định là: đất đai thuộc sở hữm toàn dân do nhà nước thông nhất quan lý (Điều {7 va Điều 18 Hiến pháp năm 1992). Như vậy, nếu như trước năm 1980 còn nhiều hình thức sở hữm về đất đai tạo nên sự đặc trưng trong quản lý và sử dụng đất đai trong thời kỳ quan liêu bao cấp thì sau Hiến pháp nam 1980 ở Việt Nam chỉ còn một hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai là sở hữu toàn dân, một chế độ sở hữu chuyển từ øú đoạn nên kinh tế tập trung hoá cao độ sang nền kinh tế thị trường có điều tiết. tạo thành sự đặc trưng trong quan hệ đất đai đưới tác động của các quy luật kinh tế thị trường. Quan hệ đất đai hiện nay không thể hiện mối quan hệ truyền thống giữa các chủ sở hữu đất đai với nhau mà được xác lập trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.
Nói một cách khác. các quan hệ này xác định trách nhiệm và 9 GIAO TRINH LUAT DAT DAI quyền hạn của Nhà nước trong vai trò người đại điện chu sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý đất đai. Từ vai trò và trách nhiệm đó, Nhà nước không ngừng quan tâm đến việc bảo vệ, giữ gìn, phát triển một cách bền vững nguồn tài nguyên đất đai cho hiện tại và tương lai. Với đặc trưng cơ bản là xác lập các quyền cho người chủ sử dụng đất cụ thể nhằm tránh tình trạng vô chủ trong quan hệ đất đai như trước đây, việc chuyển giao quyền sử dụng cho tổ chức trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hộ gia đình và cá nhân là thiên chức cơ bản trong hoạt động của Nhà nước phù hợp với vai trò là người đại diện chủ sở hữu và người quản lý.
Quan hệ đất đai ở Việt Nam dựa trên nền tảng đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại điện chủ sở hữu. Quy định như trên có sự tách bạch giữa chủ thể thực hiện quyền sở hữu đất đai và người thực hiện quyền sử dụng đất. Vì vậy, quan hệ đất đai do đó xuất phát từ quan hệ mang tính quyền lực, thể hiện quyền lực đó thông qua vai trò hệ thống các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức, quản lý đất đai đồng thời không chỉ là quan hệ quản lý mà thông qua đó địa vị của người sử dụng đất được đánh giá đúng vị trí góp phần làm đa dạng quan hệ sử dụng, làm thay đổi căn bản nếp nghĩ và cách làm của người sử dụng khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng ổn định và lâu dài. Quá trình hợp tác giữa người sử dụng đất với nhau trên cơ sở sự bảo hộ của Nhà nước khi thực hiện đầy đủ các quyền của người sử dụng là yếu tố linh hoạt nhất và đa dạng nhất trong quan hệ đất đai.
Cho nên, tổng hợp các quy phạm pháp luật mà Nhà nước ban hành nhằm thiết lập quan hệ đất đai trên cơ sở chế độ 10 CHƯƠNG ! - CÁC VAN DE LY LUAN CO BAN VE NGANH LUAT DAT DAI sở hữu toàn dân về đất đai và sự bảo hộ đây đủ của Nhà nước đối với các quyền của người sử dụng đất tạo thành một ngành luật quan trọng trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, đó là luật đất đai. Các văn bản luật đất đai Cần có sự phân biệt giữa văn bản luật đất đai với hệ thống văn bản pháp luật về đất đai. Luật đất đai với tính cách là một văn bản luật do Quốc hội ban hành cũng là một trong các văn bản pháp luật về đất đai nhưng là văn bản quan trọng bậc nhất trong số các văn bản pháp luật về đất đai. Quá trình lịch sử xây dựng các văn bản luật đất đai không đễ dàng.
Thực tế từ năm 1972, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã có nghị quyết giao cho Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng các dự thảo luật đất đai.